Mời bạn chọn vào đây để xem Kinh A Di Đà của Ḥa Thượng Thích Trí Tịnh
Mời bạn chọn vào đây để xem tập sách: Con đường Tây Phương của Tịnh Sĩ
Mời bạn chọn vào đây để xem tập sách: Quê Hương Cực Lạc của Ḥa Thượng Tuyên Hóa

Tám quy luật phiên dịch Kinh
điển Phật học
Hành trạng của HT. Thích Tuyên Hóa
Kệ tụng của HT. Thích Tuyên Hóa
*
* *
1. Người
dịch phải tự thoát ḿnh ra khỏi động cơ
truy t́m danh lợi.
2. Người
dịch phải tu dưỡng thân tâm, dứt bỏ thói cao
ngạo.
3. Người
dịch phải tự chế, không được tự
khen ngợi ḿnh, chê bai người khác.
4. Người
dịch không được tự cho ḿnh là tiêu chuẩn, là
thước đo, rồi hạ thấp người khác
bằng cách t́m lỗi nơi tác phẩm của họ.
5. Người
dịch phải lấy tâm Phật làm tâm ḿnh.
6. Người
dịch phải dùng Trạch Pháp Nhăn để phán xét
đâu là chân lư.
7. Người
dịch phải cung kính cầu thỉnh Cao Tăng
Đại Đức mười phương chứng minh
cho bản dịch.
8. Người
dịch phải hoan hỷ truyền bá giáo nghĩa Phật
học bằng cách in Kinh, Luật, Luận khi việc phiên
dịch của ḿnh được công nhận là chính xác.
Vô
thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bách
thiên vạn kiếp nan tao ngộ.
Ngă
kim kiếu văn đắc thọ tŕ
Nguyện
giải Như Lai chân thật nghĩa
*
Phật pháp rộng
sâu rất nhiệm mầu
Trăm
ngàn muôn kiếp khó t́m cầu.
Con
nay nghe thấy chuyên tŕ tụng
Nguyện
rơ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
HÀNH TRẠNG CỦA H̉A
THƯỢNG TUYÊN HÓA
SHI
HENG TUNG
* THỜI THƠ
ẤU:
Vào ngày 17 tháng 03 năm Mậu
Ngọ (1918), Ḥa Thượng Tuyên Hóa sinh ra trong một gia
đ́nh họ Bạch, tại một ngôi làng nhỏ
thuộc huyện Song Thành, tỉnh Cát Lâm, Đông Bắc
Trung Hoa.
Ngay khi vừa sinh ra, Ngài khó
suốt ba ngày, thương cho chúng sinh trong cơi Ta bà quá
nhiều khổ lụy. Năm 11 tuổi, nhân thấy
một em bé chết giữa vùng sa mạc hoang vu, Ngài có
phần thức tỉnh, muốn rời bỏ cuộc
sống gia đ́nh, tu đạo để giải
quyết vấn đề sinh tử lớn lao.
Năm lên 12 tuổi, Ngài
bắt đầu sám hối tất cả mọi lỗi
lầm của ḿnh với hai đấng sinh thành, dự
tính một ḷng báo đáp hiếu đạo. Ngài lạy cha
mẹ ḿnh hằng ngày. Sau đó, Ngài cảm thấy lạy
cha mẹ ḿnh chưa đủ, Ngài lạy Trời
Đất, Quốc vương, Sư trưởng. Ngài
vẫn thấy chưa đủ. V́ thế, dần dần
Ngài lạy đến cả mọi loài chúng sanh. Ngài
lạy sáng và chiều, lỗi lần hơn 380 lạy, 5
thời mỗi ngày. Ngài lạy đến cả gió,
mưa, tuyết, mong rằng qua cái lạy sẽ chuyển
hóa được người xấu thành người
tốt; hy vọng cái lạy sẽ đem b́nh an đến
cho thế giới tao loạn này.
Năm 15 tuổi, Ngài quy y
với Lăo Ḥa Thượng Thường Trí ở chùa Tam
Duyên. Chính thức là Phật tử đă quy y Tam Bảo.. Ngài
thân cận Ḥa Thượng Thường Nhân. Đến
năm 17 tuổi, Ngài chỉ đến trường
học hai năm rưỡi. Do Ngài đạt
được tâm chuyên nhất nên đọc qua một
lần liền thuộc. Nhờ vậy, Ngài thông thạo
Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bách gia Chư Tử, Y học,
Bốc phệ, Chiêm tinh, Vật lư, và các lĩnh vực
học thuật khác của thế gian.
Vào năm 16 tuổi, Ngài đă
bắt đầu giảng Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Kim
Cang, Kinh A Di Đà, và giảng giải Phật Pháp cho
những người không biết chữ nghe.
Năm 18 tuổi, mẹ Ngài lâm
bệnh. Ngài bỏ học ở nhà chăm sóc. V́ Ngài đă
biết rơ khó khăn do không được học hành chu
đáo, nên Ngài thành lập một lớp học miễn
phí, dạy cho hơn 30 trẻ em nghèo, từ sáng đến
tối không nghỉ.
Trong những năm đi
học, Ngài c̣n tham gia nhiều hội đoàn từ
thiện, như Hội Phật Học, Hội Đạo
Đức, Hội Từ Thiện, Hội khuyến khích
bỏ uống rượu, bỏ hút thuốc; khuyến
khích từ bỏ những thói xấu, làm việc thiện.
Ngài tu tập hạnh Bồ tát, nguyện cứu độ
tất cả mọi loài.
* XUẤT GIA:
Năm 19 tuổi, mẹ Ngài,
Hồ Thái qua đời. Ngày 08 tháng 04 ngày Đức
Phật Đản sanh, Ngài đảnh lễ Lăo Ḥa
thượng Trí Nhân ở chùa Tam Duyên, xin thế phát
xuất gia. Được Lăo Ḥa thượng truyền
giới Sa di, pháp danh là An Từ, pháp tự là Độ
Luận. Ngài xin được y chỉ với Lăo Ḥa
thượng Thường Nhân, trụ tŕ chùa Tam Duyên. Khi
được Lăo Ḥa thượng Hư Vân truyền pháp,
Ngài được ban pháp hiệu là Tuyên Hóa.
Trong suốt ba năm xuất
gia, Ngài sống trong một túp ều đơn giản bên
cạnh mộ mẹ Ngài. Người đời gọi
Ngài là Bạch Hiếu Tử (người con hiếu
họ Bạch).
Vào ngày 19 tháng 06, kỷ niệm
khánh đản Bồ tát Quán Thế Âm, Ngài phát 18 lời
nguyện lớn trước Chư Phật. Cuộc
đời của Ngài là sự thực hành sống
động 18 lời nguyện lớn này.
“Cúi đầu đảnh
lễ Chư Phật mười phương cùng Tam
Tạng Pháp quá khứ, hiện tại, vị lai cùng các
Hiền Thánh Tăng, duy nguyện rủ ḷng chứng minh cho
đệ tử pháp danh Thích An Từ, tự Độ
Luận, con nay phát tâm không v́ tự ḿnh cầu phước
báo cơi Trời, Người, Thanh văn, Duyên giác cho
đến các quả vị Bồ tát quyền thừa,
chỉ y theo tối thượng thừa phát tâm Bồ
đề. Con nguyện cùng chúng sinh trong cả pháp giới
cùng lúc đều đạt được quả vị
Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác.
1.
Con
nguyện v́ hết thảy chư vị Bồ tát trong cùng
tận hư không, khắp pháp giới, trong cả ba
đời quá khứ, hiện tại và vị lai, nếu
như c̣n một vị nào chưa thành tựu quả
vị Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
2.
Con
nguyện v́ hết thảy các vị Duyên giác trong cùng
tận hư không, khắp pháp giới, trong cả ba
đời, nếu như c̣n một vị nào chưa thành
tựu quả vị Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
3.
Con
nguyện v́ hết thảy các vị Thanh văn trong cùng
tận hư không, khắp pháp giới, trong cả ba
đời, nếu như c̣n một vị nào chưa thành
tựu quả vị Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
4.
Con
nguyện v́ hết thảy các loài ở cơi Trời trong tam
giới, nếu như c̣n một vị nào chưa thành
tựu quả vị Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
5.
Con
nguyện cho hết thảy loài người, trong
mười phương thế giới, nếu như c̣n
một người nào chưa thành tựu quả vị
Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
6.
Con
nguyện cho loài người, loài Trời, hết thảy
loài A tu la, nếu như c̣n một vị nào chưa thành
tựu quả vị Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
7.
Con
nguyện cho hết thảy các loài súc sanh, nếu như c̣n
một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật,
th́ con chưa thành Chánh giác.
8.
Con
nguyện cho hết thảy các loài Ngạ quỷ, nếu
như c̣n một vị nào chưa thành tựu quả
vị Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
9.
Con
nguyện cho hết thảy chúng sanh trong địa
ngục, nếu như c̣n một vị nào chưa thành
tựu quả vị Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
10.
Con
nguyện cho tất cả các loài Trời, Người, A tu
la, các loài côn trùng, cho đến các linh giới như
Rồng, Quỷ thần … đă từng quy y với con,
nếu như c̣n một vị nào chưa thành tựu
quả vị Phật, th́ con chưa thành Chánh giác.
11.
Con
nguyện đem hết tất cả những phước
lạc mà con đáng được hưởng, xin hồi
hướng, bố thí, cúng dường cho hết thảy
chúng sanh.
12.
Con
nguyện chọu thay hoàn toàn mọi khổ nạn chu chúng
sanh trong pháp giới này.
13.
Con
nguyện phân thân vô số lượng để chuyển
hóa hết thảy chúng sanh chưa có ḷng tin với Phật
Pháp, khiến họ bỏ việc ác làm việc lành, sám
hối mọi tội chướng, quy y Tam Bảo, rốt
ráo thành Phật.
14.
Con
nguyện cho hết thảy chúng sanh, khi được
thấy mặt con, được nghe đến tên con,
đều phát tâm Bồ đề, chóng thành Phật
đạo.
15.
Con
nguyện hết ḷng tôn kính giới luật đức
Thế Tôn đă chế. Nguyện thực hành ăn một
ngày một bữa vào lúc giữa trưa.
16.
Con
nguyện giác ngộ cho hết thảy chúng sanh hữu t́nh,
nhiếp độ hết thảy mọi căn cơ.
17.
Con
nguyện tu tập để ngay đời này
được ngũ nhăn ,lục thông, đến đi
tự tại.
18.
Con
nguyện cho hết thảy những điều đă phát
nguyện đều được viên măn.
Cuối cùng:
Chúng sanh không ngằn
mé, thệ nguyện độ hết thảy.
Phiền năo không
cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch.
Pháp môn không số
lượng, thệ nguyện đều tu học.
Phật
đạo không ǵ sánh bằng, thệ nguyện
được viên thành.
* TRỊ TÂM
BỆNH:
Ḥa thượng Tuyên Hóa ngay
từ thơ ấu đă có ḷng nghĩa hiệp và ḷng
trắc ẩn. Ngài không chịu nỗi khi thấy
người khác bị khổ. V́ vậy, Ngài nguyện
chịu thay mọi khổ nạn cho chúng sanh. Ngài đă
cứu chữa cho vô số người bị những
chứng bệnh ngặt nghèo và quái dị. Những
bệnh không c̣n phương cứu chữa, như bệnh
ôn dịch, bệnh ma ám, bệnh do nghiệp chướng …
Ḥa thượng nói: “Đây
chẳng phải là do tôi có một năng lực ǵ
đặc biệt hay thần thông diệu dụng ǵ
cả. Đây là sức gia bị của Chư Phật và
Chư Bồ tát. Khi tâm nguyện chí thành, sẽ nhận
được sự cảm ứng của Chư
Phật, Chư Bồ tát”.
Trong khi dùng lực gia tŕ
để chữa bệnh cho mọi người, Ngài
đều giải thích cho họ hiểu ư nghĩa chủ
yếu của lực gia tŕ: “Các con không nên chỉ
biết t́m kiếm sự gia bị ở bên ngoài, mà
trước hết hăy tự ḿnh gia bị cho chính ḿnh,
rồi mới có thể gia bị cho hết thảy
mọi người. Đó là ư nghĩa chân chính của
việc gia bị”.
Tại sao ta không có
được sự cảm ứng khi tụng kinh, tŕ chú,
niệm Phật? V́ chúng ta không thành thực, chúng ta đă nói
dối. Chú là chân ngôn. Nếu mọi người không
vọng ngữ th́ mọi lời nói của họ
đều có công hiệu. Nếu họ gọi Trời,
Trời liền cảm ứng, gọi đất,
đất liền linh hiển. Ḥa thượng nói:
“Tôi là một
người không có khiếu nói năng, v́ tôi chỉ
biết nói những điều chân thực và nói những
điều mà mọi người muốn nghe, đặc
biệt là trong việc phá trừ mê tín. Tôi chẳng ngại
bị đắc tội với người. Nếu có
điều ǵ cần phải nói, tôi sẽ nói ở bất
cứ nơi đâu mà tôi đến. Nếu có điều
ǵ không cần phải nói, tôi sẽ không nói. Đơn
giản chỉ v́ khi ta không vọng ngữ th́ mọi
chữ, mọi lời ta nói lên đều có một năng
lực vô biên, có thể chữa lành những căn bệnh
hiểm nghèo cho chúng sanh hữu t́nh cũng như vô t́nh.
Như cơn băo lẽ ra sẽ đến, nó có thể
chuyển sang hướng khác. Một trận động
đất lớn giả sử sẽ xảy ra, nó sẽ
được ngăn chặn. Nơi bị hạn hán,
nước sẽ xuất hiện. Nơi không có mưa,
sẽ có mưa. Chiến tranh và tai ương sẽ
được dập tắt. Những điều xấu
đang hiện hữu sẽ được làm cho biến
mất, và những điều lành chưa hiện hữu
sẽ được làm cho phát hiện. Bởi v́ khi tâm ta
chân thành đến cực điểm, sự cảm
ứng tự nhiên sẽ dung thông, đáp ứng ngay tâm
nguyện của mọi người. Chân lư ở nơi
đâu th́ nơi đó sẽ có hết thảy các loài
Rồng, Chư Thiên và các thiên thần đến để
hộ tŕ. Chân lư ở nơi đâu th́ tất cả Chư
Phật, Chư Bồ tát sẽ đến nơi đó
để hộ tŕ”.
* HOẰNG
TRUYỀN CHÁNH PHÁP
Vào năm 1948, Ḥa thượng
sang Hồng Kông để truyền bá chánh pháp. Vào năm
1962, Ngài nhận lời cầu thỉnh sang Hoa Kỳ,
nơi Ngài phát nguyện lớn hoằng truyền Phật
pháp, dịch Kinh và giáo dục. Ngài c̣n dựng lập
đạo tràng, nhận đệ tử, lập tông
chỉ, đặt nền móng cơ bản cho việc
truyền bá Phật pháp ở Tây phương. Ḥa
thượng thường nói:
“Tôi có thể không
ăn một ngày, nhưng không thể bỏ phí một ngày
mà không giảng giải Phật pháp”. – “Chỉ cần c̣n
một chút hơi thở, là tôi c̣n giảng pháp”. – “Tôi sẽ
giảng pháp, dù cho nhiều người, hoặc chỉ có
ít người nghe. Dù chỉ có một người
đến, tôi vẫn giảng. Dù chẳng có người
nào đến, tôi cũng giảng cho quỷ thần nghe”.
Công hạnh một đời
của Ḥa thượng là nói và làm, tương ứng nhau
khắp mọi nơi, vào mọi lúc. Đó là biểu
hiện chân thật nhất của giáo pháp mà Ngài đă
truyền bá.
* THÂN THUYẾT PHÁP
Ngài đă sống bên cạnh
mộ của mẹ Ngài suốt ba năm. Đối
với cha mẹ, Ngài là người con chí hiếu. Suốt
đời, Ngài luôn kính trọng những người
lớn tuổi, yêu mến trẻ thơ, và hết ḷng
thương xót các loài chúng sanh. Thấy nước Trung Hoa
gặp nhiều tai ương trong chiến tranh, Ngài không
từ bỏ nghĩa vụ công dân của một
người Trung Hoa. Suốt trong thời gian hơn 30
năm ở nước Mỹ, Ngài tự nguyện làm
việc v́ lợi ích của nước Mỹ, trong khi Ngài
vẫn kiên quyết giữ quốc tịch Trung hoa. Ngài hoàn
toàn trung thành với cả hai quốc gia.
Ngài rất đơn giản
trong việc sử dụng áo quần, thực phẩm,
mọi đồ dùng riêng … để tiết kiệm
nguồn năng lượng cho toàn thế giới. Ngài dùng
một đôi giày suốt hơn 30 năm. Ngày chẳng có
nhiều quần áo. Khi ăn cơm, nếu có một
hạt cơm rơi xuống nền nhà, Ngài liền
nhặt lên ăn. Khi uống nước, Ngài uống
cạn sạch ly. Ngài dùng những thực phẩm
đơn giản nhất, chỉ luộc chín, chẳng
cần dầu và muối. Những của phước
lạc riêng Ngài, Ngài đều xin hồi hướng
bố thí cho tất cả chúng sanh. Ngài chẳng có riêng tài
sản ǵ, v́ Ngài đă cúng dường cho những quỹ
từ thiện.
Không bao giờ theo h́nh thức
bên ngoài. Ngài luôn hạ ḿnh thấp nhất và sau hết
mọi người. Ngài đă bắt đầu tu tập
pháp lễ lạy khi Ngài c̣n 12 tuổi. Ngài lạy hết
thảy mọi người suốt ngày không mệt. Sau khi
đến Mỹ, Ngài c̣n lạy các đệ tử
của Ngài. Ngài lạy cho đến khi các vị
đệ tử chịu giảng dạy Phật pháp. Ngài
lạy cho đến khi một số đệ tử phát
nguyện thực hiện một cuộc hành hương
với ba bước một lạy. Ngài lạy cho
đến khi đệ tử Ngài chịu lạy những
kẻ đă phỉ báng chính Ngài. Bất cứ khi đi
đâu, Ngài đều nhường đệ tử ḿnh
đi trước. Ngài muốn đi sau rốt mọi
người. Khi giảng pháp, Ngài để cho đệ
tử giảng trước và Ngài là người giảng
sau cùng. Ngài c̣n là người nguyện cho các đệ
tử thành tựu Phật đạo trước ḿnh. Ngài
nguyện ḿnh là người cuối cùng trong pháp giới
thành tựu Chánh giác.
Dung mạo, oai nghi của Ngài
rất hoàn chỉnh. Trong vẻ trang nghiêm đượm
tính từ ḥa. Đôi mắt luôn nh́n xuống, hai tay luôn luôn
chấp lại ngang ngực. Nụ cười
thường tỏa rạng trên môi. Trông dáng dấp Ngài
rất oai nghiêm. Khi có người tiếp xúc với Ngài,
Ngài luôn nhă nhặn và từ ái.
Ngài không bao giờ muốn làm
phiền đến người khác. Ngài tự giặt
giũ quần áo, tự mang hành lư. Ngài không muốn ai phục
vụ cho Ngài, ngay cả khi bệnh nặng phải
chống gậy mà đi. Ngay cả vào những năm
cuối đời, khi Ngài phải dùng xe lăn, Ngài vẫn
nài nỉ được tự ḿnh mang túi xách trên vai
hoặc ôm trong ḷng khi Ngài di chuyển bằng máy bay từ
Đạo tràng này sang Đạo tràng khác để
giảng pháp trong t́nh trạng sức khỏe rất
yếu. Ngài bảo: “Tôi muốn được
đứng bằng đôi chân của tôi và sử dụng
chính sức lực của ḿnh. Tôi không muốn phụ
thuộc vào ai cả”.
Ngài ở trong thiền
định suốt cả ngày đêm. Công việc
đến, Ngài liền ứng xử, giải quyết
kịp thời và nhanh chóng. Xong việc, trở lại
sự thanh thản thường xuyên. Ngài xử lư vô số
việc trong ngày một cách tự nhiên, thoải mái. Ngài nói:
“Tôi chẳng tụng Kinhm chẳng tŕ chú. Điều
đơn giản là tôi không khởi vọng tưởng”.
Ngài làm việc trong trạng thái nhất tâm. Ngài tức
khắc nhận ra và nhắc nhở sửa lại
những lầm lẫn của thông dịch viên khi
chuyển lời Ngài sang tiếng Anh. Ngài không bao giờ bỏ
quên vật ǵ, Ngài nhớ hết thảy tên, hoàn cảnh gia
đ́nh, tính t́nh, tập khí của mọi đệ tử
mà không ba giờ lẫn lộn. Thậm chí Ngài c̣n nhớ
chính xác Ngài đă đi bao nhiêu bước chân quy
định trong ngày.
Trong suốt bao nhiêu năm Ngài
truyền bá Chánh pháp ở Mỹ, người ta gọi Ngài
là Đệ nhất Cao tăng trên thế giới, là
Thượng nhân. Trường Cao Đẳng Tế Minh
ở Sơn Đông, Trung Hoa muốn đổi tên
trường thành Trường Cao Đẳng Tuyên Hóa. Có
vị giáo thọ đề xướng thành lập “Pháp
Giới Diệu Giác Sơn Nguyên Cứu Hội” để
học tập công hạnh Ngài. Ngài bảo: “Đừng
học theo tôi. Tôi chẳng có ǵ xứng đáng để
học theo cả. Các bạn nên nghiên cứu học hỏi
ở mọi người dân, đàn ông, phụ nữ,
người xuất gia, giới cư sĩ, người
già lăo, trẻ em, người hiền lương, kẻ
tai ác … hăy ghi nhận toàn bộ đời sống của
họ, v́ trong tương lai, nhờ những sự
kiện này mà các bạn có thể giáo hóa, giúp đỡ cho
mọi người. Đạo hạnh của tôi chưa
đủ để cảm động đến
Trời. Đức độ của tôi chưa dủ
để chuyển hóa người. Người
đời thích gán cho tôi những cái tên mà tôi không muốn.
Tôi chẳng phải là cao Tăng cũng chẳng phải là
Thượng Nhân. Tôi chỉ là một người b́nh
thường, thích đặt ḿnh dưới những
người khác. Tôi tự gọi ḿnh là “Xác chết
biết đi”, “Thầy tu ở g̣ mả”, “Con kiến bé”,
“Con muỗi nhỏ”, … Tôi thích đi sau tất cả mọi
người. Mọi danh xưng đều chỉ là hư
giả, không thật. Danh xưng chỉ tồn tại khi
nó xứng hợp với mọi người, với
mọi thời gian, mọi nơi chốn. Cái tên chẳng
đáng tí nào cả, thế mà nhiều người chấp
trước vào danh xưng mà nhọc thân, nhọc xác. Khi tôi
c̣n sống cũng như sau khi chết, tôi không muốn
mọi người chú ư đến tên tôi hay xây tháp kỷ
niệm tôi. Tôi chẳng muốn lưu lại dấu
vết ǵ cả. Tôi đến từ hư không, tôi trở
về lại với hư không”.
* GIẢNG PHÁP
BẰNG LỜI
Tại các đạo tràng chi
nhánh của Hội Phật Giáo Pháp Giới, đều có
những khóa giảng Kinh để giúp mọi người
nhận ra chân lư. Do vậy, mỗi Đạo tràng
đều có chương tŕnh giảng Kinh hàng ngày.
“Nước sông hằng luân lưu mỗi ngày th́ ḍng pháp
ở vạn Phật Thành cũng sẽ được
giảng nói suốt ngày đêm”. Có một thời gian Ḥa
thượng dùng phương pháp gọi là “Pháp Quán
Chiếu để phát khởi trí tuệ vốn có”.
Để hướng dẫn cho tứ chúng đồng tu.
Phật tử có thể đến đây để
thăm hỏi Phật pháp, để tập diễn
giảng và thi diễn giảng. Ḥa thượng
thường xuyên mở lớp “Vấn đáp song
đối” để giúp cho đệ tử tự khai
mở trí tuệ bản hữu.
Tuỳ theo nhân duyên, Ḥa
thượng thường chọn các đề tài thích
hợp để giảng nói cho người đang
muốn nghe. Đối với tầng lớp b́nh dân, Ngài
giảng về việc làm tṛn bổn phận, nghĩa
vụ cơ bản của ḿnh. Đối với sinh viên,
học sinh Ngài giảng về hiếu hạnh, trung tín,
lễ nghĩa, liêm sỉ, ư thức về bản thân, yêu
mến gia đ́nh và nghĩa vụ đối với
Tổ quốc. Đối với các vị giáo thọ, các
vị hiệu trưởng, Ngài giảng về pháp môn giáo
dục và thiên chức của giáo dục. Đối
với giới chính trị gia, Ngài nói về đạo
đức, liêm khiết và ḷng thương yêu dân như con
đẻ của chính ḿnh.
Khi nhận lời mời
giảng pháp, ḥa thượng không bao giờ ước mong
được mọi người biết tiếng.
Bởi v́ Ḥa thượng chỉ muốn hoằng pháp giáo
huấn để đào tạo con người. Ngài không
bao giờ chỉ đi xa để giảng pháp. Hơn
thế nữa, Ngài luôn luôn đưa các đệ tử
theo để học hỏi những điều hay lạ
ở xứ người. Chương tŕnh hàng ngày của
đoàn tham quan này rất nhiều chi tiết. Ngoài hai
thời công phu sáng tối như thường lệ và
lễ quá đường vào buổi trưa, c̣n có các
thời lễ sám, tụng Kinh, nghe khai thị, dự
lễ truyền Tam Quy, Ngũ giới cho Phật tử,
dự các Pháp Hội Đại Bi, Pháp Hội Thủ
Lăng Nghiêm … hoặc tiếp xúc với Phật tử.
Không để một phút giây nào lăng phí. Ḥa thượng
nói: “Chúng tôi chẳng phải là đoàn tham quan du lịch,
cũng chẳng phải là đoàn hoằng pháp. Chúng tôi
đơn giản chỉ là đoàn người đi
học hỏi. Chúng tôi chưa thông thạo nhiều vấn
đề, và chúng tôi chưa đủ khả năng
để làm việc hoằng pháp. Chúng tôi rất hoan
hỉ được theo sau mọi người, mong
được học hỏi các vị Đại
đức, Trưởng lăo ở khắp mọi nơi”
* KIẾN
LẬP ĐẠO TRÀNG
Ḥa thượng từ Trung hoa
đến Hồng Kông rồi từ Hồng Kông sang Hoa
Kỳ. Ngài phát nguyện: “Đào tạo người,
không dựng chùa”. Ngài chủ yếu là đào tạo
những vị Tổ sống, những vị A la hán
sống, những Bồ tát sống và những đức
Phật sống. Do vậy, trải qua rất nhiều
điều kiện khó khăn, Ngài sửa chữa, trùng tu
lại những cơ sở có sẵn làm Đạo tràng
để giảng dạy giáo pháp kịp thời cho
Phật tử. Ngài chủ trương hạ thủ công
phu ngay tại những Đạo tràng vô h́nh tướng.
Các Đạo tràng chi nhánh thuộc Hội Phật Giáo Pháp
Giới ở khắp nơi bên ngoài có vẻ không giống
với các tự viện truyền thống của Trung Hoa,
nhưng người ta có thể nhận ra bên trong là cơi
Tịnh độ, một khi họ đă đến đó
và thực sự phát tâm tu hành.
Ngài c̣n có ước nguyện: “Từ
chùa nhỏ, xây dựng nên chùa lớn”, và kiến lập
những Đại đạo tràng công cộng. Mỗi khi
dựng lập xong một Đạo tràng, Ngài lại cúng
dường cho người khác. Ngài đă từng cúng
dười hai Đại đạo tràng là Vạn Phật
Thánh Thành và Pháp Giới Thánh Thành, cũng như những
tự viện chi nhánh thuộc Hội Phật Giáo Pháp
Giới. Ngài cúng dường cho tất cả mọi chúng
sanh trên thế giới. Ngài đón nhận tất cả
mọi người đến để tu học, không
phân biệt quốc tịch, ṇi giống, tuổi tác,
địa phương … không kể thân sơ, bất
luận họ thuộc truyền thống Phật giáo
Bắc truyền hay Nam truyền, Ngài đều có
ước nguyện hộ tŕ, cũng như bất cứ
người nào đến Đạo tràng chân thật tu
hành. Ḥa thượng nói: “Chúng ta không phải là những
người biến chùa thành nhà riêng. Mọi người
từ mười phương đều có thể
đến Đạo tràng này. Ở đây luôn chờ
đợi một vị đạo cao đức trọng
để làm Trụ tŕ. Tôi chỉ là người trông coi
tạm thời. Chẳng có một Đạo tràng nào riêng
thuộc về tôi cả”.
Ngài c̣n nói: “Phật Giáo là giáo
lư về con người, giáo lư về tâm, giáo lư về chúng
sanh và giáo lư về toàn thể pháp giới. Phật Giáo không
phải là một pháp môn riêng biệt nào cả. Tôi cũng
chẳng thuộc về một giáo phái nào cả. Thiên chúa
giáo, Do thái giáo, Hồi giáo và tất cả tôn giáo khác
đều có trong Phật giáo cả. Chúng ta luôn luôn chào
đón mọi giáo phái khác đến Vạn Phật Thánh
Thành để cử hành những nghi lễ của họ.
Mọi tín đồ của mọi tôn giáo khác đều
nên thực tập hạnh nguyện từ bi. Đó là
nền tảng của mọi tôn giáo để cứu
độ toàn thế giới. Mọi người nên giúp
đỡ lẫn nhau và cùng nhau bắt tay làm việc
để thiết lập nền tảng ban đầu cho
sự thống nhất tôn giáo trên toàn cầu. Chúng sanh
sẽ có một nơi để quy ngưỡng và
chiến tranh sẽ kết thúc nhanh chóng”.
* THÂU NHẬN
ĐỆ TỬ
Ḥa thượng nói: “Vạn
Phật Thánh Thành là nơi rồng rắn lẫn lộn,
đủ mọi thành phần. Có người tu hành chí
thiết, có người chẳng tu. Chúng ta nên tâm niệm
sống trong Tứ vô lượng tâm: Từ bi hỷ
xả. Đặc biệt, nên chú tâm đến những
người chưa được hoàn thiện và hết
sức chuyển hóa họ thành người tốt”.
* TIẾP NHẬN
ĐỆ TỬ XUẤT GIA – NHƯNG KHÔNG TỪ CHỐI
MỘT CHÚNG SANH NÀO
Chánh pháp lưu hành nhờ
chư Tăng, chánh đạo phải được
truyền đến cho mọi người. Để cho
Chánh pháp có được nền móng vững chắc ở
Phương tây, ắt cần phải có những vị
đă thực hành chánh đạo. Do vậy, Ḥa
thượng đặt ra một yêu cầu rất nghiêm
khắc cho mọi người muốn theo Ngài xuất gia
tu học, là phải tốt nghiệp Cao Đẳng và
tụng thuộc ḷng Chú Lăng Nghiêm. Sau khi được
xuất gia, phải học Kinh Thủ Lăng Nghiêm, học
cách giảng kinh, thuyết pháp, học phương pháp
ngồi thiền và học cách nhẫn nại, chịu
đựng cực khổ. Qua thời gian sau, Ḥa
thượng bắt đầu nhận mọi
người xuất gia đủ mọi tŕnh độ.
Miễn là người đó có một chút thiện căn,
Ḥa thượng đều tiếp nhận khi họ có tâm
nguệyn xuất gia. Người già đến 90 tuổi
Ngài cũng tiếp nhận, miễn là họ có sự
thiết tha tu niệm. Ngài cũng tiếp nhận trẻ
em 6-7 tuổi, giúp cho thiện căn các em ngày càng tăng
trưởng. Những người tàn tật, sáu căn
không đủ, Ngài cũng tiếp nhận, cũng
đều tạo nhân duyên lành giúp họ vượt thoát
hệ lụy cơi trần.
* ĐỘ
HẾT HÀNG CƯ SĨ – NHƯNG KHÔNG TRANH ĐỆ TỬ
Khuynh hướng Phật
tử thời nay là thích quy y với nhiều thầy, nên Ḥa
thượng dạy: “Chỉ cần quy y với một
thầy là đủ rồi. Đừng quy y với
thầy này rồi bỏ thầy kia. Bạn quy y với quá
nhiều thầy mà không nghe lời họ dạy, thế là
vô ích. Không những việc này gây nên sự bất ḥa trong
hàng Pháp Sư khi họ tranh đệ tử, mà c̣n gây hậu
quả cho những nơi có hàng Phật tử kỳ
cựu sinh tâm rối loạn và nhầm lẫn. Việc này
không tạo nên sinh khí mới cho Phật pháp mà ngược
lại, sẽ làm cho Phật pháp trở nên hư hoại”.
Miễn là ḷng người chân
thành, Ḥa thượng sa74n sàng truyền Tam quy, Ngũ
giới ngay cả khi Ngài đang bệnh, Ngài chẳng
bận tâm đến sự phiền lụy. Dù chỉ
một người đến xin thọ giới, Ngài
cũng sẵn sàng làm lễ truyền giới.
Có một số vị
Đại đức. Cao Tăng xưa nay phát nguyện
không tiếp nhận đồ chúng, ngại rằng v́
bận rộn trách nhiệm dạy dỗ mà trở
ngại công phu của riêng ḿnh. Ḥa thượng không như
vậy, Ngài nhận hết thảy những người có
tính khí ương ngạnh, mông muội và những kẻ có
căn tính rất khó điều phục. Ngài nguyện
rằng, thà xả bỏ đầu, mắt, tủy, năo
của ḿnh, hơn là từ chối không độ thoat
những người này.
* LẬP TÔNG
CHỈ
“Mọi
người đến Vạn Phật Thánh Thành đều
phải tuân theo một số quy định. Rồng
cũng phải cuộn ḿnh mới có thể bay lên phun
mưa tùy ư. Cọp cũng phải thu ḿnh mới có thể
đón hướng gió mà vồ mồi chính xác”. Tại
Đạo Tràng Hội Phật Giáo Pháp Giới, mọi
người đều phải phấn đấu thực
hành ba tông chỉ và sáu nguyên tắc do Ḥa thượng
đề ra như một tiêu chuẩn để tu
tập. Vạn Phật Thánh Thành là trung tâm của các
Hội Phật Học này.
* BA TÔNG CHỈ VÀ
SÁU NGUYÊN TẮC
Ba tông chỉ:
Ngay lúc vừa bắt
đầu hai thời khóa tụng vào buổi sáng sớm,
mỗi chiều tứ chúng đệ tử đều
phải tự ḿnh quán sát lại chính ḿnh:
1.
Dù
lạnh đến chết, cũng không phận duyên; dù
đói chết, không van nài; dù nghèo chết, không cầu
cạnh.
2.
Tùy
duyên mà không biến đổi; không biến đổi
nhưng tuỳ duyên.
3.
Kiên
quyết thực hành đúng theo ba tông chỉ. Nguyện
xả bỏ thân mạng để làm tṛn Phật sự.
Chính ḿnh có trách nhiệm chuyển hóa nghiệp riêng của
ḿnh. Xem công phu tu hành là sự nghiệp chính của Tăng
sĩ.
Sáu nguyên tắc:
1.
Ngay
nơi Sự để sáng tỏ Lư. Lư sáng tỏ tức là
Sự. Tu tập, xiển dương, lưu hành mạch
phái Tổ sư đă truyền.
2.
Tự
hỏi ḿnh thật sự đă là người không tranh
chưa? Tự hỏi ḿnh thật sự đă là
người không tham chưa?
3.
Tự
hỏi ḿnh thật sự đă là người không mong
cầu chưa? Tự hỏi ḿnh thật sự đă là
người không vị kỷ chưa?
4.
Tự
hỏi ḿnh thật sự đă là người không tư
lợi chưa? Tự hỏi ḿnh thật sự đă là
người không nói dối chưa?
5.
Tự
hỏi ḿnh thật sự đă là người ăn
một bữa chưa?
6.
Tự
hỏi ḿnh có luôn luôn đắp y không rời thân không?
Những điều này là gia
phong của Vạn Phật Thánh Thành, không một
người nào có thể thay đổi được.
* LUÔN LUÔN MẶC Y
GIỚI
Để tuân thủ giới
luật đức Phật đă chế và để
hộ tŕ tăng tướng, Ḥa thượng dạy
chư Tăng luôn luôn đắp y và mang theo tọa cụ,
không được để những vật này rời thân.
Ngài dạy phải dẹp trừ ham muốn sử
dụng y phục quư và đẹp.
* ĂN MỘT NGÀY
MỘT BỮA TRƯA
Dùng nhiều thức ăn vào
nhiều bữa trong ngày sẽ làm lớn mạnh tâm tham,
khiến trở ngại công phu tu tập. Theo luật
đức Phật đă chế, chư Tăng thực hành
ăn một bữa vào buổi trưa và sử dụng
b́nh lục bát ngọ trai. Rau luộc và “canh A la hán” là
vị thuốc hay để hữa bệnh đói và khát.
Mọi người đừng nên ăn quá no, nên ăn
vừa đủ. Đừng tham ăn nhiều,
đừng muốn ăn ngon, ta sẽ được
tự tại thoát khỏi tham dục.
* ĐÊM KHÔNG
NGỦ NẰM
Ngủ nhiều và hôn trầm
khiến tâm ngu si tăng trưởng. Ḥa thượng
đă từng thực hành không bao giờ nằm ngủ vào
ban đêm từ hồi c̣n trẻ, nên Ngài khuyến khích
đệ tử ngủ ngồi, khiến tinh thần thanh
thản, nhẹ nhàng, tỉnh táo. Nhờ đó có thể
thoát khỏi sự cám dỗ của ma quỷ.
* KHÔNG GIỮ
TIỀN BẠC
Tiền bạc là gốc
tội lỗi. Người có tiền dễ sanh khởi
vọng tưởng. Để đảo bảo cho công
phu tu tập có hiệu quả, Ḥa thượng dạy
đệ tử tuân thủ luật đức Phật
đă chế, không giữ tiền bạc làm của riêng
ḿnh. Tăng sĩ không được phép nhận của
cúng dường riêng cho ḿnh. Chư Tăng làm việc
đều mang tính chất phục vụ. Khi bị
bệnh hoặc có việc tăng sai th́ có thể sử
dụng quỹ của Tăng chúng để chi dùng. Ḥa
thượng bảo: “Người nào giữ
được giới không cất giữ tiền của
riêng tư, th́ vị ấy chính là tăng sĩ xứng
đáng với nghĩa ruộng phước thanh tịnh”.
* KHÔNG CÓ Ư NIỆM
THỨ BẬC
Trong mọi Đạo tràng,
tứ chúng đệ tử đều sinh hoạt và cùng
nhau công phu tu tập. Mọi người đều hoàn
chỉnh bổn phận của chính ḿnh trong niềm vui
của Chánh pháp. Không có danh lợi, không có quyền lực,
không có lương bổng nên chẳng có những nỗ
lực riêng tư để tranh đoạt quyền
lợi cá nhân. Không có chức vụ Trị sự hay Trụ
tŕ. Mọi người đều b́nh đẳng trong vai
tṛ chính ḿnh là chủ tự viện.
* NGHIÊM TÚC TRONG
GIỚI HẠN NAM NỮ
Bất cứ lúc nào hai
người cần tiếp xúc nhau, dù qua điện
thoại, trao đổi thư từ … cũng nên có ít
nhất hai người khác ở bên cạnh. Nguyên tắc
này áp dụng cho cả bốn chúng để đảm
bảo cho mọi nhân duyên giữ ǵn giới hạnh thanh
tịnh, thoát khỏi mọi ham muốn. Công việc hàng
ngày chẳng rời công phu tu niệm: công phu tu niệm không
tách rời công việc hàng ngày.
* TU TẬP TÙY CHÚNG
Thời khóa tu niệm hàng ngày
gồm: công phu sáng, Lễ Phật, tụng Kinh hoa Nghiêm,
trước thời qúa đường buổi trưa,
lạy sám Đại Bi. Công phu chiều: nghe giảng Kinh,
tụng Tâm Kinh. C̣n có những nghi lễ, pháp hội riêng vào
những ngày kỷ niệm, húy nhật chư Phật,
chư vị Bồ tát, Đại pháp hội Thủy
Lục Không … Mọi lúc, mọi người tùy khả
năng của ḿnh để đóng góp công quả vào các
lĩnh vực giáo dục, phiên dịch kinh điển,
xử lư công việc tự viện hàng ngày … Như thế,
không để thời gian trôi qua vô ích.
* MỖI
ĐẠO TRÀNG LÀ MỘT TRƯỜNG HỌC
Giáo dục là nền tảng
của tất cả các pháp thế gian cùng pháp xuấ
thế gian. Pháp môn vô số lượng, thệ nguyện
đều tu học. Chúng ta đồng thời là thầy
và tṛ, học tập lẫn nhau. Ở Vạn Phật Thánh
Thành có trường Tiểu học Dục Lương,
trường Trung học Bồi Đức, trường
Đại học Phật Giáo Pháp Giới, cùng chương
tŕnh giáo dục cho Tăng sũ và Cư sĩ. Nhiều chi
nhánh Đạo tràng đều có lớp học Phật
pháp cuối tuần hay vào ngày Chủ nhật.
*T̀NH NGUYỆN
GIẢNG DẠY LÀ QUY LUẬT
Giáo thọ sư tự
nguyện giảng dạy không hưởng lương và
không đ́nh công. Mục đích việc giáo dục là làm sáng
tỏ đạo lư, chứ không phải v́ danh lợi. Dùng chương tŕnh Nho
giáo cho lớp cơ bản và Phật học cho lớp
đệ tử đă quy y. Qua giáo dục sẽ phát
hiện vào đào tạo nhân tài để phục vụ
cho lợi ích toàn thế giới. Ḥa thượng nói: “Người
không cần tiền bạc là người chân chính”.
* NAM NỮ HỌC
TẬP RIÊNG
Nam nữ được
tổ chức học tập riêng biệt, để
họ có thể tập trung vào việc học mà không
bị phân tâm. Nhờ vậy nên có thể ngăn ngừa
được những căn bệnh xă hội như: nam
nữ giao thiệp nhau quá sớm, pháp thai, ly dị,
đồng tính luyến ái … Những hiện tượng
đó đều bị cấm tuyệt ở đây. Ḥa
thượng nói: “Giáo dụclà nền tảng tối
yếu của quốc pḥng, có thể cứu văn cả xă
hội và có thể giải quyết tận gốc mọi
vấn đề của thế giới”.
* GIÁO DỤC TRONG
TĂNG GIÀ LÀ CHỦ YẾU
Tăng sĩ có trách nhiệm
làm mô phạm cho hết thảy mọi chúng sanh, nên họ
phải tự rèn luyện, học tập Phật pháp hoàn hảo
trước khi họ đảm nhiệm công việc
dạy dỗ cho người khác. Do vậy, Ḥa
thượng đặc biệt giáo dục hàng đệ
tử xuất gia rất nghiêm cẩn và yêu cầu rất
cao ở họ.
Tùy thuộc vào năng lực
của từng người, các đệ tử
đều được phân công đảm nhiệm
những công việc trong chúng để học hỏi thêm.
Mọi người đều có được những
cơ hội như nhau. Các giáo thọ thường cho
học tăng những lời giáo huấn trực tiếp
và gián tiếp cũng như những sự hỗ trợ
cần thiết.
Các giáo thọ thường cho
học tăng những bài khảo thí bất ngờ,
như mời mọi người từ mọi giai
tầng trong xă hội, ở khắp mọi quốc gia
đến để giảng kinh, mở những khóa
học tại Vạn Phật Thánh Thành hay những Đạo
tràng chi nhánh khác. Ḥa thượng bảo: “Mọi
người cần phải có cái nh́n thấu suốt chân lư
trạch pháp nhăn. Nếu nhận ra Đạo, hăy nên
tiến tới, nếu chẳng phải Đạo th́ nên
thối lui. Hăy chọn những pháp thiện để hành
tŕ theo, lọai trừ những tính bất thiện ở
trong ḿnh. Mọi việc đều là một sự
khảo nghiệm cho chính ḿnh, nếu ta chưa nhận ra
được mặt mũi trước khi sinh ra là ǵ, th́
phải cố gắng làm lại từ đầu”.
Các pháp vốn bất
định. Pháp cố định là pháp chết. Con
người là pháp sống động, bạn không nên
mắc kẹt vào một lối đi cho đến khi nó dẫn
bạn vào bóng tối.
Ḥa thượng bảo: “Bạn
phải tự làm sáng tỏ trí tuệ và tự tin nơi
chính ḿnh. Đừng tin vào tôi”.
Phong cách của Ḥa
thượng rất thoải máivà dân chủ. Ngài tôn
trọng chúng đệ tử và không bao giờ tự ư
chế định những iới điều. Khi có đệ
tử làm điều ǵ sai trái. Ngài mới đưa ra quy
định kịp thời để hộ tŕ cho công phu
học tập.
Ḥa thượng có một
tấm ḷng bao dung khoan thứ vô hạn. Bất luận
người nào phạm lỗi lầm, miễn là họ
khởi lên ư muốn sám hối, th́ Ḥa thượng sẵn
ḷng tha thứ.
Trực nhận
tự kỷ thác: Nhận ngay lỗi của ḿnh.
Mạc luận tha
chi nhân: Không bàn luận đến sai trái của
người khác.
Tha phi tức ngă
phi: Xem lỗi lầm của người khác chính là lỗi
của ḿnh.
Đồng
thể danh đại bi: Được gọi là
đồng tâm thể đại bi của chư Phật.
Ḥa thượng tự trách
chính ḿnh thay v́ trách cứ người khác. Ngài nhận
về phần ḿnh hết thảy mọi lỗi lầm mê
muội, nghiệp chướng, tập khí xấu của
đệ tử. Ngài phát nguyện gánh vác hết nghiệp
chướng.
Xem việc giáo dục chúng Sa di
là nền tảng của việc giáo dục tăng chúng.
Vào những năm cuối cùng
của cuộc đời, Ngài hết ḷng chăm sóc giáo
dục chúng Sa di và Sa di trẻ mới xuất gia. Ngài
đích thân sắp xếp giáo thọ và thời khóa học.
Ngài tự thân truyền thọ pháp môn Tứ thập
nhị thủ nhăn ấn pháp cho chúng Sa di tu tập. Ngài
đem hết tâm huyết để truyền thọ cho hai
giới này, hy vọng sự đồng tu của tứ
chúng, của lớp tăng trẻ từ 6 –17 tuổi này,
chẳng bao lâu sẽ trở lên những mặt trời
sáng rỡ của Phật pháp, sẽ truyền bá ḷng từ
bi vô hạn, niềm an nhiênhạnh phúc, hướng dẫn
chúng sanh tu tập đạo Bồ tát, chuyển hóa tận
cùng khổ đau sinh tử.
* ƯỚC
NGUYỆN PHIÊN DỊCH TAM TẠNG KINH ĐIỂN PHẬT
GIÁO
Từ hồi c̣n trẻ, Ḥa
thượng đă có ước nguyện truyền bá
Phật pháp rộng khắp thế giới. Muốn
vậy, Ngài phát nguyện tổ chức phiên dịch Tam
Tạng Kinh điển Phật giáo sang các thứ tiếng
trên thế giới. Đây là công tŕnh sự nghiệp ngàn
năm. Ngài nói: “Phiên dịch Tam Tạng c̣n quan trọng
hơn văng sanh Tịnh độ”.
Ḥa thượng là người
đầu tiên trên thế giới dùng Trung văn để
giảng Kinh, trước hết, Ngài dọc một
đoạn Kinh từ trí nhớ, rồi liên tiếp
giảng câu này sang câu khác mà không cần nh́n vào Kinh văn.
Ngài chẳng cần ghi chép điều ǵ, Ngài giảng hoàn
toàn lưu xuất tự tự tánh khiến ai ai cũng
hiểu được. Ngài sử dụng tiếng
bạch thoại thông dụng để giảng giải
những ư nghĩa sâu rộng nhất của Kinh văn,
bằng những ví dụ rất thực tế khiến
mọi tầng lớp đều hiểu được.
Ḥa thượng nói: “Tôi chỉ biết cách đưa ra
những ví dụ rất đơn sơ để
chuyển ư Kinh do tôi giảng, gọi là “Bản dịch
đơn giản”. Cũng như rau cải được
luộc chín bằng nước sôi, trông có vẻ thanh
đạm nhưng rất tốt cho sức khỏe”.
DỊCH
SANG NHỮNG NGÔN NGỮ KHÁC:
Có hàng trăm bộ Kinh
dịch xong đă được ấn hành. Nhiều
nhất là tiếng Anh. Sau này sẽ in Kinh song ngữ Hoa
Pháp, Hoa Việt …
Bên cạnh việc xuất
bản Kinh sách, băng từ và băng video cũng
được phát hành song ngữ. Hiện nay băng
từ song ngữ cũng rất thông dụng để ghi
và truyền các dữ liệu bằng tiếng Hoa và
tiếng Anh.
THÀNH
LẬP VIỆN PHIÊN DỊCH KINH ĐIỂN QUỐC TẾ:
Năm 1973, Viện Phiên
dịch Tam Tạng Kinh Phật giáo Quốc tế đă
được thành lập.
Năm 1992, thành lập Ban
quản trị Hội Phật giáo Pháp giới. Chư
Tăng cùng Cư sĩ từ khắp nơi đều t́nh
nguyện đến đây để cộng tác dịch và
ấn hành Tam Tạng Kinh mà không nhận bất cứ
khoản thù lao nào.
1. Người
dịch phải tự thoát ḿnh ra khỏi động cơ
tự truy cầu danh lợi.
2. Người
dịch phải tu dưỡng thân tâm, dứt bỏ thói cao
ngạo.
3. Người
dịch phải tự chế, không được tự
khen ngợi ḿnh nhưng lại chê bai người khác.
4. Người
dịch không được tự cho ḿnh là tiêu chuẩn, là
thước đo, rồi hạ thấp người khác
bằng cách t́m lỗi nơi tác phẩm của họ.
5. Người
dịch phải lấy tâm Phật làm tâm ḿnh.
6. Người
dịch phải dùng Trạch Pháp Nhăn để phân xét
đâu là chân lư.
7. Người
dịch phải cung kính cầu thỉnh Cao Tăng
Đại Đức mười phương chứng minh
cho bản dịch.
8. Người
dịch phải hoan hỷ truyền bá giáo nghĩa Phật
học bằng cách in Kinh, Luật, Luận khi việc phiên
dịch của ḿnh được công nhận là chính xác.
* THỊ HIỆN
TƯỚNG BỆNH
Hàng phàm phu bị bệnh do
nghiệp. Họ thọ nhận lấy những ǵ họ
đă làm trong quá khứ. Tất cả các bệnh của
họ đều do tham, sân, si. C̣n bệnh của Thánh nhân
là do nguyện lực. Các Ngài phát nguyện chịu thay
nghiệp chẳng lành mà chúng sanh đă tạo lập. V́
chúng sanh bệnh nên Bồ tát bệnh, các bậc Thánh đă
chuyển hóa xong toàn bộ ba món độc này rồi.
Ngài vốn không bệnh,
nhưng lại muốn chịu thế mọi khổ
đau cho chúng sanh, nhận hết bệnh của chúng sanh
về phần ḿnh, nên thânn Ngài có biểu hiện các
triệu chứng của bệnh, với hy vọng chúng
sanh khi thấy tướng bệnh, biết
được nguyên nhân của bệnh, mới chịu
quyết tâm tu hành.
Để hộ tŕ cho
đệ tử bốn chúng tu hành. Ngài đă đi từ
Đạo tràng này đến Đạo tràng khác. Những
cuộc hành tŕnh bằng xe hơi, giữa thời tiết
nóng lạnh bất thường, xử lư vô số
những công việc phức tạp, giúp cho người
khác lực gia tŕ để tu tập. Điều ấy
đă làm cho Ngài kiệt sức.
Mười năm trước
đây Ngài đă phát bệnh nặng v́ làm việc quá
sức. Năm nay bệnh Ngài quá nặng đến nỗi
Ngài không thể bước lên một bậc thềm. Ngay
cả khi các bác sĩ chẩn đoán Ngài chỉ c̣n sống
một tuần lễ nữa. Ḥa thượng vẫn
từ chối sự nghỉ ngơi để t́m
phương cách trị liệu. Ngài vẫn chống tích
trượng để đi hoặc ngồi xe lăn,
tiếp tục đi đến khắp nơi để
giảng pháp. Hai năm nay, bệnh đến liệt
giường mà Ngài vẫn chỉ dạy các đệ tử
khắp nơi bằng điện thoại, hay xuất
hiện trong những giấc mơ của họ
để giáo hóa.
Ḥa thượng đă chữa
trị bệnh cho vô số người, sao Ngài lại không
chữa trị cho chính ḿnh? Đó chẳng phải là Ngài
không thể chữa, mà v́ Ngài không muốn chữa. Một
đời Ngài xưa nay chưa từng làm hoặc suy
nghĩ một điều ǵ cho riêng ḿnh. Ngay cả khi Ngài
đau đớn cùng cực, Ngài cũng chẳng cần
đến sự giúp đỡ cho riêng ḿnh chút nào. Ngay
cả khi Ngài an tường thị tịch vào ngày 06 tháng 07
năm ấy (1995)., bệnh Ngài và cơn đau cũng không
giảm chút nào.
Ngài không thị hiện
những điềm lạ, cũng chẳng lưu lại
những kỳ tích. Ngài chỉ nói cho mọi người
những bài học lớn lao về thành, trụ, hoại,
không – sanh, lăo, bệnh, tử.
Đây thật là bài học
lớn lao mà Ḥa thượng đă trao cho hàng đệ
tử trên đường thực hành đạo Bồ
tát. Từ vô lượng kiếp xa xưa, chư Bồ tát
đă xả bỏ vô số thân để cứu
độ chúng sanh. Chư vị hoàn toàn nghĩ đến
mọi người chứ không nghĩ đến ḿnh.
Đối diện với những nỗi khổ khó
chịu đựng này, người ta mới có thể
tiếp tục can đảm tiến bước với
niềm tin kiên định, không khuất phục khi tu
hạnh Bồ tát, dũng mănh tiếp nối công hạnh
của người xưa. Đó chính là chất vàng không
chảy của Ḥa thượng trong ḷ lửa hừng
hực.
Toàn bộ cuộc đời
của Ngài là biểu hiện từ bộ Kinh Hoa Nghiêm.
Phẩm “Pháp giới bất khả tư ngh́ của chư
Phật”, trong Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng chư Phật
Thế Tôn có mười Phật sự rộng lớn:
… “Các Phật
tử, khi chư Phật nhập Niết bàn, vô
lượng chúng sanh đau đớn khóc lóc, sanh tâm ưu
bi khổ năo. Chư Phật thấy vậy nên nói: Như
Lai Thế Tôn có tâm đại từ bi, v́ ḷng thương
xót và làm lợi lạc cho cả thế gian, là nơi
nương tựa và cứu hộ cho muôn loài. Thật khó
mà tính kể sự thị hiện của Như Lai trên
thế gian này.
Ruộng
phước vô lượng từ nay mất hẳn. Do
vậy, v́ khiến cho chúng sanh kính mến, ngưỡng
mộ mà các Ngài làm Phật sự.
Chư Phật
Thế Tôn tuy nhập Niết bàn nhưng v́ chúng sanh mà
tiếp tục làm ruộng phước bất khả
tư ngh́; làm ruộng phước tối thượng, vô
tận phước đức; khiến cho chúng sanh có
được đầy đủ thiện căn và
ruộng phước tṛn đầy”.
* * *
CHÚ ĐẠI BI
H̉A
THƯỢNG THÍCH TUYÊN HÓA
GIẢNG
GIẢI
Kẻ hậu học khi xem kinh, nên có
tâm thái như sau: ba nghiệp tâm, khẩu, ư phải
được thanh tịnh. Ba nghiệp trên
được lắng trong th́ phước huệ tṛn
đầy.
1.
Nên thẳng
ḿnh ngồi ngay như ngồi trước đức
Phật. Đó là thân nghiệp được thanh tịnh.
2.
Miệng
không nói lời sai trái, không cười đùa. Đó là
khẩu nghiệp được thanh tịnh.
3.
ư không tán
loạn, dứt sạch tâm phan duyên. Đó là thanh tịnh ư
nghiệp.
Khi tâm an tịnh th́
ngoại cảnh lắng trong, đó là khế ngộ
nguồn tâm, diệu nhập pháp lư. Khi nước lắng
trong th́ vẻ sáng của ngọc tự chiếu soi, mây tan
trăng tự hiển bày, đại nguyện thành tựu
cũng như nhập vào biển diệu nghĩa. Thấu
đạt ư kinh cũng chính là đến được
đỉnh núi cao trí tuệ. Nếu hành giả muốn
dễ thành tựu, phải gieo trồng Đại
nguyện. Khi tâm, pháp đều quên, th́ ḿnh cùng pháp giới
chúng sinh đều chung lợi lạc. Có được
như thế mới mong báo đáp ân sâu của Chư
Phật.
CHÚ
ĐẠI BI
(Phần kinh văn)
1. Nam mô hắc ra đát na
đá ra dạ da
2. Nam mô a rị da
3. Bà lô yết đế thước bát ra
da
4. Bồ đề tát đỏa bà da
5. Ma ha tát đỏa bà da
6. Ma ha ca lô ni ca da
7. Án
8. Tát bàn ra phạt duệ
9. Số đát na đát tả
10. Nam mô tất kiến lật đỏa y
mông a lị da
11. Bà lô kiết đế thất phật
ra lăng đà bà
12. Nam mô na ra cẩn tŕ
13. Hê rị ma ha bàn đà sa mế
14. Tát bà a tha đậu du bằng
15. A thệ dựng
16. Tát bà tát đá, na ma bà tát đa (*) na
ma bà già
(*)
Các bản hiện đang lưu hành, được tŕ
tụng rộng răi ở Việt Nam thiếu năm chữ
này.
17.
Ma phạt thị đậu
18. Đát điệt tha, án
19. A bà lô hê
20. Lô ca đế
21. Ca ra đế
22. Di hê rị
23. Ma ha bồ đế tát đỏa
24. Tát bà tát bà
25. Ma ra ma ra
26. Ha hê ma hê, rị đà dựng
27. Cu lô cu lô yết mông
28. Độ lô độ lô phạt già ra
đế
29. Ma ha phạt già ra đế
30. Đà la đà la
31. Địa lỵ ni
32. Thất phật ra da
33. Giá ra giá ra
34. Ma ma phạt ma ma
35. Mục đế lệ
36. Y hê di hê
37. Thất na thất na
38. A ra sam phật ra xá lợi
39. Phạt sa phạt sam
40. Phật ra xá da
41. Hô lô hô lô ma ra
42. Hô lô hô lô hê rị
43. Ta ra ta ra
44. Tất lỵ tất lỵ
45. Tô rô tô rô
46. Bồ đề dạ - bồ
đề dạ
47. Bồ đà dạ - bồ đà dạ
48. Di đế rị dạ
49. Na ra cẩn tri
50. Địa lỵ sắt ni na
51. Ba dạ ma na
52. Ta bà ha
53. Tất đà da
54. Ta bà ha
55. Ma ha tất đà dạ
56. Ta bà ha
57. Tất đà du nghệ
58. Thất bàn ra dạ
59. Ta bà ha
60. Na ra cẩn tŕ
61. Ta bà ha
62. Ma ra na ra
63. Ta bà ha
64. Tất ra tăng a mục khư da
65. Ta bà ha
66. Ta bà ma ha a tất đà dạ
67. Ta bà ha
68. Giả cát ra a tất đà dạ
69. Ta bà ha
70. Ba đà ma yết tất đà dạ
71. Ta bà ha
72. Na ra cẩn tŕ bàn đà ra da
73. Ta bà ha
74. Ma bà lợi thắng yết ra dạ
75. Ta bà ha
76. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
77. Nam mô a lị da
78. Bà lô kiết đế
79. Thước bàn ra dạ
80. Ta bà ha
81. Án tất điện đô
82. Mạn đà ra
83. Bạt đà dạ
84. Ta bà ha
THÍCH TUYÊN HÓA
Thủ nhăn thông thiên
đại tổng tŕ
Chấn động tam thiên
thế giới th́
Hữu duyên vô duyên hàm
nhiếp hóa
Từ bi phổ độ
Diêm phù đề
(CÚ GIẢI)
Từ
trước đến nay, nhiều người đă
giảng rộng về Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni,
nhưng chưa có vị nào giảng giải về chú
Đại Bi. Thực vậy, rất khó giảng giải
về chú Đại Bi. V́ kinh văn thần chú này thuộc
vào hệ mật ngôn chân ngữ. Nay để giảng
giải về thần chú này, trước tiên tôi xin
đưa ra một bài kệ để thuyết minh cho ư
nghĩa của thần chú:
Đại
bi đại chú thông thiên địa
Nhất bách nhất thiên thập
vương hoan
Đại từ đại bi năng
khử bệnh
Nghiệt kính nhất chiếu biến cao
huyền.
Nghĩa là:
Thần
chú Đại bi có công năng thông cả thiên
đường, thấu cả địa phủ.
Người nào thường tŕ niệm chú này mỗi ngày
108 biến, niệm ngàn ngày như thế th́ có thể
khiến Thập điện Minh vương hoan hỷ.
Năng lực
Từ và Bi của thần chú có thể chữa lành tất
cả mọi tật bệnh và làm cho đài gương
chiếu tội sáng ngời ngời.
*Đại
bi đại chú thông thiên địa
Khi
quí vị niệm thần chú này th́ trời đất
đều chấn động, cả pháp giới
chuyển rung. Trên thông cả cơi trời, dưới
thấu khắp cả các cơi giới địa ngục.
Khắp cả mọi pháp giới trời người
đều cảm thông và tán dương công đức.
*Nhất
bách nhất thiên thập vương hoan
Nếu
quí vị niệm thần chú này mỗi ngày 108 biến,
niệm ngàn ngày như vậy, tức là vào khoảng 3
năm. Niệm thần chú này liên tục trong 3 năm không
gián đoạn, không bỏ sót một ngày, bất luận
quí vị có bận rộn như thế nào cũng không quên
niệm, th́ có thể khiến cho mười vị vua
điều hành công việc ở chốn địa
phủ cũng phải hoan hỷ. Có nghĩa là từ vua
Diêm La cai quản điện thứ 10, cùng tất cả
các chung sinh đang bị tội báo ở trong 10 địa
ngục ấy đều được vui mừng.
*Đại
từ đại bi năng khử bệnh
Năng
lực Từ và Bi của thần chú này có thể chữa
lành tất cả mọi bệnh tật. V́ sao gọi là chú
Đại Bi? Là v́: “Bi năng bạt khổ”. Nghĩa là Bi
có công năng làm cho mọi khổ nạn của chúng sinh
được tiêu trừ. C̣n “Từ năng dữ
lạc”. Ḷng Từ thường đem lại niềm vui
cho chúng sinh. V́ thần chú này khả năng bớt khổ
ban vui cho mọi chúng sinh nên gọi là Chú Đại Bi.
Chủ yếu nhất là công năng chữa lành mọi
bệnh tật. Bất luận quí vị bị bệnh ǵ,
nếu quí vị tŕ niệm Chú Đại Bi, th́ mọi
bệnh khổ đều được tiêu trừ.
Có
người sẽ thắc mắc: “Tôi đă niệm Chú
Đại Bi rồi, tại sao không lành bệnh?”
Quí
vị chưa lành bệnh là v́ quí vị chưa vận
hết ḷng thành trong lúc tŕ niệm. Với ḷng chí thành,
chắc chắn quí vị sẽ có được sự
cảm ứng khi niệm chú.
*Nghiệt
kính nhất chiếu biến cao huyền
Khi
quí vị tŕ niệm mỗi ngày 108 biến chú Đại
Bi, niệm trong 1000 ngày như thế th́ Thập
điện Minh Vương vui mừng và tất cả
mọi bệnh tật đều được tiêu
trừ. Trong suốt 1000 ngày, tức 3 năm này, quí vị
đ• thành tựu được khá nhiều công
đức rồi. Bởi v́ trong 3 năm này, mỗi ngày quí
vị đều gia tâm tŕ tụng thần chú nên không có
điều kiện để tạo tác nghiệp nhân. Quí
vị không uống rượu, không ăn thịt, không
ăn ngũ vị tân.
Trong
địa ngục có một đài gương báo tội
gọi là “nghiệt kính đài”, nếu quí vị gây một
nghiệp ác nào th́ nghiệp ấy sẽ hiện rơ trong
đài gương kia. Cũng giống như h́nh ảnh
đang hiện ra trên màn ảnh xi nê vậy. Ví như
một người, đời này gây tội sát nhân, th́
trong gương báo tội sẽ hiện ra cảnh
người ấy đang giết người. Nếu
người ấy gây nghiệp trộm cắp th́ trong
gương sẽ hiện h́nh người ấy đang
đi ăn trộm. Nếu người ấy gây
nghiệp đốt phá nhà cửa người khác th́ trong
gương sẽ hiện ra rơ ràng hành động
đốt nhà ấy.
C̣n
nếu quí vị không gây tạo ác nghiệp ǵ cả th́ sao?
Th́ chẳng có ǵ hiện ra trong kính đó cả. Vậy nên,
nếu quí vị tŕ tụng thần Chú Đại Bi trong 3
năm th́ khi gương nghiệp soi chiếu đến,
tội báo của quí vị sẽ được tẩy
sạch. Nơi địa ngục ấy sẽ treo lên
một tấm bảng ghi rằng: “Người này đă
từng tŕ tụng Chú Đại Bi, tội báo của
người này đều đă được hóa giải
toàn bộ.”
Tất
cả các vị quỷ thần trong địa ngục
đều cúi đầu lễ bái sùng kính người tŕ
chú này như lễ bái cung kính chư Phật trong ba
đời quá khứ, hiện tại, vị lai vậy.
Đồng thời các vị quỷ thần ấy sẽ
hộ tŕ người tŕ chú cũng như họ
thường hầu cận chư Phật vậy, và các
vị quỷ thần đều thông báo cho nhau biết là
không nên quấy nhiễu người tŕ chú này. Thần
lực của chú Đại Bi thật là không thể
nghĩ bàn.
CÚ GIẢI
(Giảng giải từng câu)
1. Nam mô hắc ra đát na
đá ra dạ da
Hàng
ngày chúng ta vẫn thường tụng Nam mô A – di - đà
Phật. Nam mô Bổn sư Thích – ca Mâu – ni Phật. Nhưng
quí vị có biết Nam – mô có nghĩa là ǵ không? Chắc là
rất ít người biết được. Cách đây
vài năm, có lần tôi đă đặt vấn đề
này trong một pháp hội nhưng chưa một người
nào có được câu trả lời hoàn chỉnh cả.
Nam
– mô, phiên âm chữ Nama từ tiếng Phạn. Trung Hoa
dịch là “Quy y”; cũng dịch là “Quy mạng kính
đầu”. Có nghĩa là: “Con xin đem toàn thể sinh
mạng của con về nương tựa vào chư
Phật”. Cái bản ngă của chính ḿnh không c̣n nữa. Mà con
xin dâng trọn vẹn thân mạng ḿnh lên chư Phật.
Nếu chư Phật cho con sống th́ con sống; bảo
con chết th́ con chết. Con hoàn toàn tin vào chư Phật.
Đó gọi là “Quy mạng”.
C̣n
“Kính đầu” có nghĩa là hết sức cung kính và
nương tựa vào đức Phật. Đó là ư
nghĩa của Nam – mô.
C̣n
“Quy y” có nghĩa là đem hết thân và tâm của ḿnh,
đem hết cả mạng sống của ḿnh trở
về nương tựa vào đức Phật.
Nói
tổng quát. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có
nghĩa là “Xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp
mười phương”.
Đó
chính là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm. Quí
vị nên khởi tâm Từ Bi mà tŕ niệm. Mặc dù đó
là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm, nhưng
cũng có nghĩa là quy y với toàn thể chư Phật
trong mười phương, suốt cả ba đời:
quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi quí vị tŕ
niệm thần chú này. Không những chỉ nhắc nhở
ḿnh quy y với Tam Bảo thường trụ trong khắp
mười phương vô biên vô tận mà c̣n khiến cho
tất cả mọi loài hữu t́nh khi nghe được
thần chú này cũng đều quay về quy y, kính lễ
mười phương ba đời thường trụ
Tam Bảo.
Quí
vị có biết Tam bảo là ǵ không? Đó là Phật
bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Quí vị nên biết
rằng, trên thế gian này Phật bảo là cao quư nhất.
Cũng thế, Pháp bảo và Tăng bảo là điều
cao thượng và quư báu nhất. Không những cao quư ở
thế gian mà c̣n cao quư đối với những cảnh
giới xuất thế gian, cho đến đối
với cơi trời phi tưởng phi phi tưởng
nữa. Không c̣n có ǵ cao quư hơn Tam bảo trong Phật pháp
nữa. Trong mười pháp giới th́ cảnh giới
Phật là cao nhất. Thế nên chúng ta cần phải cung
kính quy ngưỡng và tín thọ nơi Tam bảo cao quư,
phát khởi tín tâm kiên cố và thâm sâu, không một mảy
may nghi ngờ.
Có người sẽ hỏi: Quy y Tam
bảo sẽ có lợi ích ǵ?
Tối thiểu nhất là khi quí vị quy y Phật
rồi th́ đời đời kiếp kiếp không c̣n
đọa vào địa ngục nữa; khi quí vị quy y
Pháp rồi th́ đời đời kiếp kiếp không
c̣n đọa vào hàng ngạ quỷ (quỷ đói) nữa;
khi quí vị quy y Tăng rồi th́ quí vị không c̣n bị
đọa làm loài súc sinh nữa.
Đây là những đạo lư căn bản của
việc quy y Tam bảo.
Nhưng
khi đă quy y rồi, quí vị phải tự nguyện và
tinh tấn thực hành các việc lành, tương ứng
với lời dạy của đức Phật th́ mới
xứng đáng gọi là quy y. Nếu quí vị vẫn c̣n
giữ nguyên các tập khí ngày trước như sát sanh,
trộm cắp, tà hạnh dâm dục, nói dối, nghiện
ngập và làm mọi điều ḿnh thích để thỏa
măn ngũ dục th́ quí vị không thể nào tránh khỏi
đọa vào 3 đường ác (ngạ quỷ,
địa ngục, súc sinh). Bở v́ trong Phật pháp không
có sự nhân nhượng. Quí vị không thể nói: “Tôi
đă quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng rồi, nên tôi
sẽ không bao giờ bị đọa vào địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa. Vậy nên tôi có
quyền làm điều ǵ tôi muốn…”
Quí
vị phải thay đổi, chuyển hóa mọi tập khí
xấu của ḿnh và tích cực thực hành những
việc thiện, dứt khoát không bao giờ làm những
việc ác nữa. Nếu quí vị c̣n tiếp tục làm
những việc xấu ác, th́ quí vị sẽ bị
đọa ngay vào địa ngục.
Đạo
Phật không giống như ngoại đạo. Họ
tuyên bố rằng: “Quan trọng nhất là niềm tin.
Nếu có niềm tin th́ dù có làm việc ác, cũng có thể
vào được thiên đường. C̣n ngược
lại, nếu ai thiếu ḷng tin, dù có gắng sức làm
việc phúc đức, th́ cũng sẽ rơi vào hỏa
ngục”.
Nếu quí vị tin vào đức Phật
mà vẫn tạo các nghiệp ác th́ nhất định quí
vị sẽ bị đọa vào địa ngục. Dù quí
vị không tin vào đức Phật, mà vẫn gắng
sức làm việc phước thiện th́ quí vị vẫn
được lên thiên đàng. Phật pháp không bao giờ
mê hoặc con người bằng cách nói: “Nếu quí vị
tin vào đức Phật, th́ mọi điều sẽ
được như ư.” Ngược lại, nếu quí
vị tin vào đức Phật mà vẫn không chịu
từ bỏ các việc ác th́ quí vị vẫn phải
bị đọa vào địa ngục.
“Được rồi”. Quí vị lại
thắc mắc: “Nếu đă tin Phật rồi mà cũng
đọa vào địa ngục như không tin, th́ tại
sao phải quy y Tam bảo?”
Chân
chính quy y Tam bảo có nghĩa là phải từ bỏ
việc ác, quay về đường thiện, sửa
đổi mọi lỗi lầm. Như một
người được khai sinh lại với tên
mới, từ đây chỉ làm thuần túy những
việc lành. Không làm những việc xấu ác nữa.
Như thế mới đạt được lợi ích
thiết thực. Chính v́ vậy mà câu chú: Nam mô hắc ra
đát na đá ra dạ da có nghĩa là: “Quy y Tam bảo vô
cùng vô tận trong khắp mười phương”.
Khi
quí vị tŕ niệm chú này, cũng có thể giúp tiêu trừ
được những ách nạn cho quí vị. Lúc gặp
tai chướng, quí vị hay thường tŕ niệm: Nam
mô hắc ra đát na đá ra dạ da th́ tai chướng
ấy liền được tiêu trừ. Tai nạn
lớn sẽ biến thành tai nạn nhỏ, và nếu
gặp tai nạn nhỏ th́ cũng sẽ được
tiêu sạch. Chú này được gọi là “Tiêu tai pháp”, là
một trong năm bộ chú hộ ma.
Nam
mô hắc ra đát na đá ra dạ da cũng c̣n
được gọi là “Tăng ích pháp”. Nghĩa là từ
trước đến nay quí vị đă từng gieo
trồng nhiều thiện căn, và vẫn thường
tŕ tụng chú này, th́ thiện căn của quí vị
sẽ tăng trưởng thêm gấp nhiều lần,
lợi lạc không kể xiết. Nên chú này được
gọi là “Tăng ích pháp”.
Quí
vị có thể niệm toàn bộ chú Đại Bi,
hoặc chỉ cần niệm câu chú đầu tiên này thôi:
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da là “Thành tựu
pháp”, bất luận quí vị muốn điều ǵ, th́
sở nguyện sở cầu của quí vị đều
được thành tựu như ư muốn. Nếu quí
vị không có con trai mà muốn cầu sinh con trai, hay
niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da sẽ sinh
được con trai. Nhưng quí vị phải tŕ
niệm với tâm trí thành, không phải chỉ niệm
một hai ngày rồi thôI, mà phải niệm liên tục ít
nhất là trong ba năm. Nếu quí vị không có
được bạn tốt, mà muốn gặp
được một người, hay niệm Nam mô
hắc ra đát na đá ra dạ da th́ liền gặp
được ngay bạn lành. Nếu quí vị tŕ niệm
được toàn thể bài chú Đại Bi th́ quá
tốt, nếu không chỉ cần niệm câu đầu
tiên Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, cũng sẽ
thành tựu những công đức không thể nghĩ bàn.
Câu
chú này cũng c̣n được gọi là “Hàng phục pháp”.
Năng lực của câu chú đó có thể hàng phục
thiên ma, chế phục ngoại đạo khi nó nghe
đến câu chú này.
Tuy
vậy, câu chú này không phải là “Câu triệu pháp”. Khi quí
vị tŕ niệm một câu chú thuộc trong “Câu triệu
pháp” th́ tất cả các loại yêu ma quỷ quái khắp
nơi đều đến tŕnh diện và có thể bắt
giữ, hoặc sai khiến được chúng.
Vậy
nên, câu chú Nam mô hắc ra đát ra đá ra dạ da này có công
năng rất mạnh, không thể suy lường
được. Nếu nói chi tiết, th́ không thể nào
cùng tận được.
Tóm
lại, trong câu Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da,
th́ Nam mô có nghĩa là “quy mạng kính đầu”. Hắc ra
đát na là “bảo”. Đá ra dạ có nghĩa là “Tam”. Da
nghĩa là “Lễ”.
Nghĩa
toàn câu là: “Xin đem hết thân, tâm, tính mạng của ḿnh
quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong khắp
cả mười phương, suốt cả ba
đời”. Chúng ta phải cúi đầu đảnh
lễ thường trụ Tam bảo.
V́
sao gọi là vô tận vô biên? V́ chư Phật trong thời
quá khứ là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời
hiện tại là vô cùng vô tận. Chư Phật trong
thời vị lai là vô cùng vô tận. Cho nên Tam bảo là vô
biên vô tận.
2. Nam mô a
rị da
Nam
mô như đă giảng ở trên, nghĩa là “đem hết
thân tâm, tánh mạng quy y và kính lễ, học tập chư
Phật và chư Bồ – tát”.
A
rị có nghĩa là “Thánh giả”. Có nghĩa là người
xa ĺa tất cả các ác pháp. Nên Nam mô A rị da có nghĩa
là kính lễ các bậc Thánh giả, người đă xa ĺa
tất cả các pháp bất thiện.
3. Bà lô
yết đế thước bát ra da
Bà
lô yết đế có nghĩa là “quán” trong danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ – tát. Cũng được dịch là
“quang” từ danh hiệu Vairocana (Tỳ – lô - giá - na)
nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu – hào quang chiếu khắp
mọi nơi. C̣n được dịch là: “Sở quán sát”
nghĩa là cảnh giới được quán chiếu,
được quán sát đến.
Thước
bát ra da có nghĩa là “tự tại”.
Ư
nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng
khắp và tự tại. Đó chính là ư nghĩa của danh
hiệu Bồ – tát Quán Tự Tại, Bồ – tát Quán
Thế Âm. Có nghĩa là quan sát, lắng nghe âm thanh ở cơi
thế gian để cứu độ một cách tự
tại.
4. Bồ
đề tát đỏa bà da
Mọi
người đều biết Bồ đề xuất
phát từ tiếng Phạn là Bodhi. Có nghĩa là Giác.
Tát
đỏa có nghĩa là “độ” là vượt qua
(bể khổ) cũng như đưa người khác
vượt qua (bể khổ) đến bờ giải
thoát.
Bồ
Đề tát đỏa bà da có nghĩa là một vị
Bồ – tát đă tự giác ngộ giải thoát và giúp cho
mọi chúng sinh được giác ngộ giải thoát
như ḿnh.
Bà
da có nghĩa là “đảnh lễ”.
Da
có nghĩa là khấu đầu đảnh lễ. Cúi
đầu đảnh lễ ai? Đảnh lễ các
vị Bồ – tát đă tự giác ngộ giải thoát cho chính
ḿnh rồi, c̣n giúp cho người khác được giác
ngộ giải thoát.
Câu thần chú này là muốn nhắc
đến Bồ – tát Bất Không Quyến Sách áp
đại binh. Nghĩa là khi quí vị tụng câu thần
chú này th́ Bồ – tát Bất Không Quyến Sách đem binh
tướng của cơi trời đến để hộ
tŕ cho quí vị.
5. Ma ha tát
đỏa bà ha
Ma
– ha có 3 nghĩa: Đại: lớn; Đa: nhiều; và
Thắng: hoàn hảo.
Ma
– ha với nghĩa là Đại: tức chỉ cho
người phát tâm bồ đề rộng lớn.
Ma
– ha với nghĩa là Đa: tức chỉ cho số
lượng. Có rất nhiều người phát tâm bồ
đề.
Ma
– ha với nghĩa là Thắng: tức nói đến
những người đă phát tâm bồ đề rộng
lớn đều đạt đến chỗ thành
tựu viên măn, được nhiều lợi lạc
rất thù thắng.
Tát
- đỏa nghĩa của chữ Tát - đỏa trong câu
chú này không giống như nghĩa trong câu trên. Trong câu chú trên,
Tát - đỏa có nghĩa là “độ” – vượt qua
bờ bên kia. Có nghĩa là giải thoát. C̣n trong câu chú này. Tát
- đỏa có nghĩa là “Dơng mănh giả” là người can
đảm, không sợ hăi. Cũng có nghĩa là “Tinh tấn
giả”, là người tu hành rất siêng năng.
Bà
- Da Hán dịch là “Hướng tha đảnh lễ”
nghĩa là: “Con xin đê đầu đảnh lễ các
vị đại Bồ – tát, là những người
rất dơng mănh, rất tinh tấn, không bao giờ sợ
hăi, và nguyện phát tâm bồ đề trước chư
vị Bồ – tát này.”
Các
vị đại Bồ – tát đă tự giác ngộ,
giải thoát cho chính ḿnh rồi c̣n phát nguyện giúp cho vô
số chúng sanh khác được giác ngộ và giải
thoát như ḿnh.
6. Ma ha ca lô
ni ca da
Ma
– ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng như trên
đă giảng.
Ca
– lô Hán dịch là “Bi”.
Ni
– ca nghĩa là “Tâm”.
Hợp
lại, Ma ha ca lô ni ca có nghĩa là “Tâm đại bi”.
Da
có nghĩa là đảnh lễ, như đă giảng ở
trên. Toàn câu chú Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu
đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà - la –
ni.”
7. Án
Án
nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của
tất cả mọi thần chú; cũng chính là “Phật
mẫu” mẹ của tất cả chư Phật.
Mẹ
của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn
tâm trong mọi loài chúng sinh, v́ nguồn tâm của chúng sinh
vốn có sẵn mọi trí tuệ, thường xuất
sinh các pháp lành, nên gọi là “Bổn mẫu”.
Thông qua năng lực của thần chú mà mười
pháp muôn được hiển bày.
1.
Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm
xuất sinh mọi chủng tự.
2.
Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú,
“Cú” có nghĩa là một câu.
3.
Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng
năng lực quán chiếu mà hành tŕ.
4.
Thứ tư là “Trí”: là trí tuệ, dùng thanh gươm trí
tuệ để cắt đứt tất cả phiền
năo. Trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ Bát Nhă
Ba La Mật, đó là trí tuệ viên măn nhất. C̣n “quán” là
lưu xuất từ pháp môn Thiền định Ba La
Mật.
5.
Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo
giáo pháp mà hành tŕ.
6.
Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát
nguyện, nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.
7.
Thứ bảy là “Giáo”: nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân
chính mà tu hành. Nếu quí vị không nương theo lời
dạy của đức Phật mà tu hành, th́ dù quí vị
có tu hành đến nhiều kiếp như số cát sông
Hằng đi nữa th́ vẫn không có kết quả ǵ
cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm
vậy.
Tuy
nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với
giáo lư chân chính của đức Phật th́ trước
hết, quí vị phải thông hiểu về giáo pháp đó
một cách tường tận.
8.
Thứ tám là “Lư”: nghĩa là đạo lư. Nếu quí vị
có thể nhập được vào Phật pháp vi diệu
th́ mới có được sự hiểu biết thông
đạt về giáo pháp ấy. Nếu quí vị không
khế hội được diệu pháp này, th́ quí vị
chỉ là người tu tập trong sự mù quáng. Dù quí
vị có tu hành bao lâu đi nữa, cũng không đạt
được sự thành tựu.
9.
Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị phải gieo
trồng những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh
tịnh, th́ quá khứ quí vị sẽ gặt
được quả thù thắng, quả vi diệu và
quả thanh tịnh.
10.
Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng
sẽ đạt được sau khi đă gieo trồng
nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác ngộ
tối thượng.
Như
vậy từ chữ án, xuất sinh ra mười pháp môn vi
diệu. Nên khi quí vị tŕ niệm thần Chú Đại
Bi, niệm đến chữ án th́ tất cả các loài
quỷ thần đều chắp tay vô cùng cung kính, không dám
tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi nghe hành giả tŕ
tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một
năng lực mạnh mẽ mà đến nỗi khiến
cho các loài ác quỷ, ác thần đều phải cung kính
chấp tŕ. Công năng của thần chú thật to
lớn, thần lực thật không thể nghĩ bàn.
8. Tát bàn ra phạt duệ
Tát
bàn ra, Hán dịch là “tự tại”. Nghĩa là khi quí vị
tŕ tụng thần chú này, th́ Tứ đại thiên
vương đều đến làm Hộ pháp cho quí
vị.
Phạt
duệ, Hán dịch là Thế tôn, cũng dịch là Thánh tôn.
Nguyên
câu chú này có nghĩa là Tự tại Thế tôn. Tự
tại Thánh tôn, tức là Đức Phật tự tại,
ư là xưng tán Phật bảo.
9. Số
đát na đát tả
Chữ
Số có hai âm là Shù và Shùo. Người ta thường niệm
là “Shù”.
Số
Đát Na có nghĩa là “pháp” (Dharma). Pháp ǵ? Pháp này c̣n gọi
là “Diệu thắng pháp”. Cũng gọi là “Cao thượng
thắng sinh”. Có nghĩa là không có ǵ vượt trội
hơn pháp này nữa. Thắng sinh có nghĩa là từ pháp
này xuất sinh ra năng lực rất thù thắng.
C̣n một cách dịch khác của chữ
Số là “Diệu sinh” hoặc “Thắng thân”. Diệu sinh
tức là vượt lên trên mọi sự vi diệu.
Thắng thân nghĩa là thể của pháp ấy rất thù
thắng.
C̣n
có một cách dịch khác nữa của chữ Số, là
“Tối thượng thừa địa”. Nghĩa là
cảnh giới của hành giả sẽ trải qua sau khi
chứng được Thập địa của hàng
Bồ – tát.
Đát
Na là biểu tượng của Pháp bảo.
Đát
Tả là biểu tượng cho Tăng bảo.
Cho
nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát
na đát tả là biểu tượng cho Tam bảo. Có
nghĩa là chúng ta phải nên ngưỡng nguyện
đến sự gia hộ của Tam bảo. Nên khi tŕ
niệm đến câu thần chú này, có nghĩa là thỉnh
cầu, ngưỡng nguyện đến lực gia tŕ
của Tam bảo.
Đát
tả c̣n có nghĩa là dùng giáo pháp để răn dạy
các loài quỷ thần và dùng thần chú để triệu
tập quỷ thần đến mà dạy bảo chúng theo
tinh thần chánh pháp.
10. Nam mô
tất kiết lật đỏa y mông a lị da
Xưa
nay dường như quí vị luôn luôn Nam mô với một
người nào khác chứ chưa bao giờ Nam mô với
chính ḿnh. Người tu hành không cần phải đi Nam mô
một khách thể nào khác mà phải Nam mô ngay với chính
ḿnh.
Nam
mô có nghĩa là tôi, chính tôi quay trở về quy y với Tam
bảo vô cùng vô tận khắp mười phương.
Nam
mô c̣n có nghĩa là đem tự ngă của chính ḿnh thể
nhập trọn vẹn vào cả pháp giới khắp
cả mười phương. Tức là thể nhập
vào Tam bảo vô cùng vô tận khắp cả mười
phương.
Tất
kiến lật có nghĩa là “hoàn toàn”. Tức là đem
hết toàn tâm, toàn ư để quy y và đảnh lễ Tam
bảo.
Đỏa
y mông có nghĩa là “Ngă”. Đó chính là cái Ngă của Vô Ngă. Nên
quí vị phải đem toàn tâm toàn ư đảnh lễ
bản ngă của chính ḿnh, nhưng đảnh lễ cái ngă
của vô ngă. Như thế có nghĩa là không có ḿnh hay sao? Ví
như khi có người đánh quí vị, quí vị không
cảm thấy đau; nếu họ mắng chửi, quí
vị không thấy khó chịu; nếu họ nhục
mạ, quí vị thấy như thể không có việc ǵ
xảy ra. Quí vị không nhất thiết cần phải
nhẫn nhục, v́ nếu dùng phép nhẫn nhục, là quí
vị đă rơi vào “đệ nhị nghĩa” rồi.
Trong trường hợp này, quí vị không nhất
thiết cần phải “nhẫn”, v́ vốn không có một
bản ngă để dùng pháp nhân và không có một bản ngă
để cho pháp nhẫn ấy tác động tới. Có
nghĩa là quí vị phải hành pháp nhẫn trong “vô
nhẫn”.
Đó
gọi là Ngă của vô ngă vậy.
A
lị da ở trên đă giảng qua, có nghĩa là “Thánh
giả”. ở đây tức là phải hết ḷng
đảnh lễ “cái ngă” ấy của Thánh giả. Vô
lượng vô biên chư Bồ Tát, hết thảy Thiên Long
bát bộ đều phải đảnh lễ cái ngă trong
vô ngă của bậc Thánh giả. Cái ngă ấy bao trùm
khắp vô lượng vô biên vũ trụ. Có rất
nhiều bậc Thánh giả. Họ là ai? Dưới
đây, tôi sẽ giảng rơ.
11. Bà lô
kiết đế thất phật ra lăng đà bà
Bà
lô kiết đế dịch là “Quán”.
Thất
Phật ra dịch là “Tự tại” hoặc là thế âm. Âm
thanh ở trong thế gian. Đây chính là Bồ – tát Quán
Thế Âm.
Bà
lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm,
cũng chính là Quán Tự Tại. Hai danh hiệu này không
nhất định phải là Bồ – tát Quán Thế Âm
mới được gọi là Quán Tự Tại hay Quán
Thế Âm, mà nếu khi quí vị đă đạt
được tự tại rồi, th́ quí vị chính là
Bồ – tát Quán Tự Tại. Khi quí vị có
được năng lực cứu độ tất
cả mọi loài chúng sinh, th́ quí vị chính là Bồ Tát Quán
Thế Âm. V́ vậy, một khi quí vị đă thể
nhập và vận dụng trọn vẹn pháp này rồi th́
chính quí vị là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Nếu tôi đạt được tự tại trong
việc vận dụng pháp này th́ chính tôi cũng là hóa thân
của Bồ – tát Quán Thế Âm.
Lăng
đà bà dịch là “hải đảo”, chỉ cho núi
Phổ Đà (Potala), nơi Bồ – tát Quán Thế Âm
thường thị hiện. Có sách nói núi Phổ Đà
ở nước Trung Hoa. Phổ Đà có nghĩa là “hoa
trắng nhỏ” v́ nơi núi ấy có loài hoa trắng
nở rất nhiều. Trên núi có một cung điện
được kiến tạo ở trong hang đá gọi
là “Cung Từ Bi”, đó là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm
thường thị hiện. Nơi đó được
trang hoàng bằng bảy thứ châu báu: vàng, bạc, xà cừ,
pha lê, trân châu, ngọc bích, mă năo. Nhưng không phải ai
cũng đến được nơi cung điện
này.
Bà
lô kiết đế thất Phật ra là vị Bồ – tát
có đầy tâm nguyện đại từ bi.
Lăng
đà bà là cung điện Từ Bi, nơi Bồ – tát Quan
Thế Âm thường thị hiện.
12. Nam mô na
ra cẩn tŕ
Trong
câu chú này, Nam mô vẫn có nghĩa là “quy y” và “quy mạng kính
đầu”.
Na
ra dịch nghĩa là “Hiền” – bậc hiền giả,
chỉ cho hàng Bồ Tát.
Cẩn
tŕ dịch là “ái”, có nghĩa là t́nh thương yêu. Trong ư
niệm ḷng Từ Bi bảo hộ, che chở cho mọi
loài. Thế nên ḷng từ bi của bậc Hiền giả
(Bồ – tát) thường đem đến sự bao
bọc, che chở cho chúng sinh. Trước đây tôi đă
giảng về 10 loại tâm được đề
cập trong Kinh Đại Bi Tâm Đà - la – ni. Quí vị nên
y cứ theo mười loại tâm này mà công phu tu tập.
Na
ra cẩn tŕ, Hán dịch là “Hiền ái thiện hộ” có
liên quan đến nghĩa thứ nhất, nghĩa là
thứ 6 và nghĩa thứ 10 trong 10 loại Tâm: Đó chính
là Tâm Đại Bi, Tâm Cung Kính và Tâm Vô Thượng bồ
đề.
Câu
chú này đại biểu cho 3 loại tâm như trên.
13. Hê rị
ma ha bàn đa sa mế
Hê
rị có nghĩa là “Tâm”. Tâm này có ư nghĩa ǵ trong 10
nghĩa? Nghĩa thứ 4 là vô nhiễm trước tâm. Tâm
này giúp cho quí vị duy tŕ bản tâm thanh tịnh của
ḿnh. Khi quí vị khởi tâm niệm tham, sân, si, mạn,
nghi… th́ tâm quí vị liền bị ô nhiễm, không c̣n thanh
tịnh nữa. Khi tâm quí vị không mong khởi những
niệm ô nhiễm ấy, th́ tâm quí vị được
thanh tịnh.
Ma
ha có nghĩa là “Đại”, cũng có nghĩa là
“Trường”.
Bàn
đà sa mế nghĩa là sao? Nếu tôi không nói, chắc
chắn quí vị chẳng thể nào biết
được. Nên quí vị muốn biết th́
trước tiên tôi phải giảng. Lúc đó quí vị
mới hiểu được. Quí vị mới nói
rằng: “Th́ ra ư nghĩa của cân chú ấy là như
thế”. Bàn đà sa mế có nghĩa là “đại quang
minh” nghĩa là hào quang rực rỡ chiếu khắp.
Bàn
đà sa mế lại c̣n được dịch là
“Trường chiếu mệnh” nghĩa là ánh sáng
thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi.
Nguyên
câu Hê rị ma ha bàn đa sa mế có nghĩa là “Tâm
đại quang minh”. Nghĩa là ánh sáng của tâm lực,
quang minh của tâm lực thường chiếu rộng
khắp, măi măi siêu việt cả không gian vô cùng, thời
gian vô tận; từ một vi trần cho đến vô cùng
vô tận thế giới đều có sự hiện
hữu của ánh sáng ấy.
Quí
vị sẽ nói: “à, cái đại quang minh của tâm
ấy, tôi đă nghe trong kinh giảng nói rất nhiều
rồi, và…”
Vâng,
nhưng trừ phi quí vị không nghe tôi giảng giải
thần Chú Đại Bi th́ quí vị không thể nào
biết được. Tôi sẽ giảng cho quí vị rơ.
Thật là khó gặp được người nào có
thể giảng giải về Chú Đại Bi một cách
rơ ràng tường tận. Thực vậy, hoàn toàn thực
t́nh mà nói, không mấy người thể nhập
được rốt ráo ư nghĩa của thần chú
Đại Bi hoặc là chuyển được ư nghĩa
của thần chú.
Sẽ
có người hỏi: “Thế làm sao Sư phụ biết
được?”
Quí
vị khỏi cần phải hỏi tôi. V́ tôi đă không
hỏi th́ thôi, chứ quí vị đừng nên hỏi tôi
tại sao mà tôi biết được. Dĩ nhiên là tôi
phải biết. Nếu tôi không biết, tôi không thể nào
giảng giải cho quí vị nghe được. V́ thế
đừng nên hỏi tại sao tôi lại biết.
Thay
v́ quí vị hỏi tại sao tôi biết, th́ quí vị hăy
quay trở lại hỏi chính ḿnh. Tại sao ḿnh lại
không biết? Nếu quí vị biết được lư do
tại sao ḿnh không biết, th́ quí vị sẽ rơ
được tại sao tôi biết. Trái lại, nếu
quí vị không thể nào rơ được tại sao quí
vị không biết, th́ quí vị cũng không thể nào rơ
được lư do tại sao tôi biết. Đó chính là
điều làm nên sự kỳ diệu vậy.
Chẳng
hạn có người đă hỏi tôi rằng: “Tại sao
Thầy làm người xuất gia?” Tôi đă không trả
lời câu hỏi đó mà hỏi lại rằng: “Tại
sao anh lại không làm người xuất gia? Nếu anh
biết được lư do v́ sao anh không xuất gia, th́ anh
sẽ hiểu được v́ sao tôi lại xuất gia”.
Hỏi về đạo lư trong Phật pháp cũng như
vậy. Thay v́ quí vị hỏi: “Làm sao mà tôi hiểu
được đạo lư ấy?”, th́ quí vị hăy
tự hỏi lại chính ḿnh tại sao ḿnh không hiểu
được. Khi quí vị đă hiểu được
tại sao ḿnh không biết th́ quí vị sẽ hiểu
được tại sao tôi lại biết được
đạo lư ấy. Nay quí vị đều là những
người có nhiều thiện căn nên được
dự pháp hội giảng chú Đại Bi. Vậy quí
vị phải nên hộ tŕ, bảo trọng cho thiện
căn của ḿnh. Tự ḿnh phải khéo vận dụng
thiện căn ấy để tu học và liễu
nhập Phật pháp, đừng để hoài phí một
phút giây nào cả.
Hiện
tại chúng ta đang sống vào thời mạt pháp. Chư
Phật và Bồ – tát rất ít thị hiện ở
thế gian. Thời gian này, ḷng người đang tiến
dần đến chỗ hoang liêu, điêu tàn, không dễ ǵ
gặp được chánh pháp, cũng không dễ ǵ
gặp được bậc chân thiện tri thức.
Có
lần tôi bảo các đệ tử rằng: “ở
Đài Loan có mở Đại giới đàn, năm huynh
đệ các con nên đến đó cầu thỉnh
để được thọ giới pháp”. Các
đệ tử gửi thư cho tôi biết nhiều
người ở Đài Loan nói với họ rằng:
“Chẳng cần phải tu hành ǵ cũng có thể thành tựu
đạo nghiệp”. Các đệ tử của tôi
trả lời rằng: “Chúng tôi cũng là những con
người như những con người khác, nếu
không chịu tu hành th́ làm sao có thể tựu thành Phật
đạo? Nếu không công phu hành tŕ th́ làm sao liễu
ngộ được chánh pháp”. Nếu quí vị nói
rằng không cần phải dụng công tu tập mà cũng
thành Phật, liễu đạo th́ trước đây
đức Phật chẳng cần vào núi Tuyết tu
suốt sáu năm làm ǵ, rồi sau đó đến ngồi
dưới cội bồ đề tinh chuyên thiền
định suốt 49 ngày, đến khi sao Mai vừa
mọc th́ Ngài tựu thành chánh giác.
Đức
Phật c̣n phải tu hành mới thành tựu chánh giác. C̣n
mỗi chúng sinh như chúng ta, nếu không tinh tấn tu hành
th́ làm sao có thể thành Phật được? Ai ai cũng
đều biết phải nhờ vào tu hành mới
đạt được Phật quả, nhưng
người chân thật tu hành th́ rất ít; và ai cũng
đều biết nếu không chịu tu hành th́ đều
có thể bị đọa vào địa ngục, nhưng
người không chịu tu hành th́ không sao kể xiết.
Nghiệp lực thế gian thật là không thể nghĩ
bàn!
Quí
Phật tử! Sống trong thời mạt pháp mà có
được điều kiện để nghiên cứu
Phật pháp th́ nên dơng mănh tinh tấn lên, không nên biếng
nhác, hăy siêng năng công phu, tinh cần đạo nghiệp
mới mong có ngày thành tựu. Nếu không tinh tấn dơng
mănh mà mong thành tựu đạo nghiệp th́ không thể
nào có được.V́ thế nên quí vị đừng
ngại gian nan, khổ nhọc, chướng duyên, tai ách…
mọi thứ nên quên. Phải đánh trống dơng mănh lên
để cho tinh thần phấn chấn, chỉ một
hướng thẳng đến công phu mới mong có ngày
thành tựu quả vị Phật.
Tôi
đang nói về sự vi diệu của Phật pháp.
Nếu quí vị không phát khởi niềm tin vào trí tuệ
siêu việt th́ đạo lư này đối với quí vị
cũng chẳng có lợi ích ǵ. Quí vị có thể thâm
nhập Phật pháp từ mọi sinh hoạt trong cuộc
sống, từ mỗi bước chân lặng lẽ
của thời gian trong toàn thể pháp giới…
Trong
Phật pháp, điều ǵ quí vị cũng muốn
diễn bày cho rơ ràng minh bạch th́ thường bị
đánh mất những nghĩa lư sâu mầu vi diệu. Nay
tôi dù có tŕnh bày hết về diệu lư của Phật pháp,
nhưng nếu quí vị không tin sâu và không hành tŕ th́
điều tôi giảng không c̣n là diệu pháp nữa.
Hơn nữa sự hành tŕ cần phải thường
xuyên vào mọi lúc, mọi nơi với tinh thần tinh
tấn, không lui sụt, không biếng nhác. Đây là
điều khẩn thiết nhất. Nếu quí vị
mọi thời, mọi lúc đều hướng về
phía trước mà nỗ lực công phu th́ nhất
định một ngày kia sẽ trực nhận ra “mặt
mày xưa cũ” của chính ḿnh.
Bàn
đà sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay
“trường chiếu minh”, tiêu biểu cho nghĩa thứ
năm trong mười nghĩa của tâm, đó là “quán tâm
không”. Thông qua “quán tâm không”, hành giả mới có
được trí tuệ. Với trí tuệ, hành giả
mới có được quang minh. Có được quang
minh, mới tỏa chiếu, soi sáng khắp mọi pháp
giới được. Tức là không c̣n tối tăm, mê
muội, tức là không c̣n vô minh.
Sao
gọi là “vô minh”, v́ tâm của quí vị không có
được sự tỏa chiếu soi sáng khắp
mọi pháp giới, do v́ quí vị không có được
“đại quang minh”. Nếu quí vị có được
“đại quang minh” th́ tâm quí vị liền có
được sự tỏa chiếu soi sáng khắp
mọi pháp giới, có nghĩa là quí vị đă chuyển
hóa được vô minh. Một khi vô minh đă bị
chuyển hóa sạch rồi, th́ pháp tánh hiển hiện,
đây chính là trí tuệ chân thật của quí vị.
Thuở
xưa vào triều đại nhà Lương ở Trung Hoa
có Thiền sư Chí Công là một bậc Đại
đức cao tăng. Không sử sách nào ghi lại song thân
của Thiền sư là ai. Người ta thường
kể với nhau rằng: Một hôm nọ, có người
phụ nữ nghe tiếng khóc của một hài nhi trên cành
cây cao. Cô ta trèo lên, thấy một hài nhi nằm trong tổ
chim ưng, bèn đem hài nhi về nuôi. Tuy thân thể hài nhi
này hoàn toàn giống như người nhưng những móng
tay, móng chân giống như móng chim ưng. Khi trưởng
thành, xuất gia tu đạo, chứng được
ngũ nhăn lục thông. Không biết cha mẹ Ngài là ai,
chỉ biết Ngài sinh trong tổ chim ưng nên mọi
người đều phỏng đoán Ngài được
sinh ra từ trứng chim ưng vậy.
Thời
ấy, vua Lương Vũ Đế cũng như
mọi người đều rất kính trọng và tin
phục các Thiền sư. Bất luận khi họ gặp
những sự kịên ǵ trong đời sống, như
sinh con, cha mẹ qua đời, cưới hỏi… họ đều
cung thỉnh các Thiền sư đến để
tụng kinh chú nguyện.
Một
hôm, có một gia đ́nh giàu có thỉnh Thiền sư
đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám
cưới người con gái của họ, đồng
thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc
mừng để mong rằng trong tương lai, việc
hôn nhân đều được tốt lành như ư.
Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nh́n thấy
cô dâu chú rể, Ngài liền nói:
“Thật
cổ quái, thật cổ quái!”
“Cháu
cưới bà nội”
“Thật
cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một
việc như vậy. Đây không phải là chuyện
xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ lạ khi
nh́n một đứa cháu cưới bà nội ḿnh làm
vợ. Trên thế gian này, nếu không thông đạt
những nhân duyên trong thời quá khứ th́ không thể nào
lư giải được những mối quan hệ cha con,
mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau. V́
sao? V́ mọi người đều có thể là chồng
hoặc vợ của nhau trong đời trước.
Một người có thể là cha hoặc là con của nhau
trong nhiều đời trước. Hoặc một
người đều là mẹ và con gái của nhau trong
đời trước. Ông nội của quí vị trong
đời trước lại kết hôn với cháu gái
của quí vị trong đời này. Hoặc là bà ngoại
đời trước lại tái sinh làm con gái của quí
vị. Tất cả mọi việc đều có thể
xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn
lường.
Trong
nhà này, chuyện “cháu cưới bà nội” là do
trước kia, khi bà nội sắp mất, bà trăn
trối lại với toàn gia quyến: “Con trai ta vừa
mới cưới vợ và đă có con nối ḍng. Con gái ta
cũng đă có chồng, ta không c̣n bận tâm ǵ nữa”. Bà
ta hoàn toàn thỏa măn và đă gạt mọi sự bận
tâm qua một bên, ngoại trừ một điều: c̣n
đứa cháu nội, “tương lai rồi sẽ ra sao?
Ai sẽ chăm sóc nó? Liệu người vợ của nó
có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo cho nó
được!”
Bà
nắm tay đứa cháu nội và qua đời.
Người ta bảo rằng nếu mọi việc
đều toại nguyện, lúc lâm chung có được
tâm trạng thơ thới th́ người chết sẽ
nhắm mắt. C̣n nếu không, th́ người chết
không nhắm mắt được. Bà lăo nói: “Bà rất lo
lắng cho cháu, bà chết không nhắm mắt
được”. Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở.
Thần thức của bà vẫn c̣n lo âu. Khi đến
gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng:
-
Tôi c̣n đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó.
Diêm
vương đáp:
-
Được rồi, bà hay trở lại dương gian
chăm sóc cho nó
Nói
xong, bà ta được đầu thai trở lại trong
cơi trần. Khi đến tuổi thành hôn, bà ta lấy
người cháu nội trước đây của bà ta. V́
vậy nên nói “cháu lấy bà nội”. Quí vị thấy có
phải là cổ quái thật không?
Chỉ
v́ một niệm ái luyến không buông xả
được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp
buộc ràng về sau. Bà ta chỉ v́ bận tâm v́
đứa cháu, mà về sau phải làm vợ cho nó. Quí
vị thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là
chuyện cổ quái hay sao?
Quí
vị sẽ hỏi: “Làm sao mà Thiền sư Chí Công
biết được điều ấy?” Thiền sư
biết được là v́ Ngài đă đạt
được ngũ nhăn và lục thông. Nên chỉ cần
nh́n qua, là Ngài liền biết được ngay kiếp
trước của cô dâu vốn là bà nội của chú
rể. Chỉ v́ bà nội đă khởi một niệm ái
luyến sai lầm nên nay phải đầu thai trở
lại làm người, và làm vợ của đứa cháu
nội ḿnh. Một niệm lành c̣n như thế huống ǵ
là niệm ác, hoặc khởi trùng trùng niệm ác th́ luân
hồi trong tam đồ lục đạo biết bao
giờ dứt, biết bao giờ mới mong ra khỏi.
Thiền
sư lại nh́n trong số khách đến dự đám
cưới, có một bé gái đang ăn thịt, Ngài
nói: “Con gái ăn thịt
mẹ”.
V́
miếng thịt mà em bé đang ăn là thịt dê, con dê này
vốn là mẹ của em bé đầu thai lại. Kiếp
trước bà ta đă tạo nghiệp ác quá lớn nên
đă phải đọa làm dê. Nay lại bị chính con ḿnh
ăn thịt. Ṿng oán nghiệp khởi dậy do vô minh
của chúng sinh không lời nào kể hết được.
Chư Bồ Tát thương xót, phát tâm cứu độ
chúng sinh là do điểm này.
Khi
Thiền sư nh́n các nhạc công, thấy có vị đang
đánh trống. Ngài nói:
“Con trai đang đánh bố”.
V́
cái trống ấy bịt bằng da lừa. Con lừa này
chính là cha của anh nhạc công đầu thai vào. Con
lừa này bị giết thịt, lấy da làm mặt
trống. Thật là đau thương cho kiếp luân
hồi.
Ngài nh́nh quanh đám cưới, nói tiếp:
“Heo
dê ngồi ở trên”
Ngài
thấy có vô số loài heo, cừu, dê, gà được
đầu thai trở lại làm người, nay họ
đều là bà con thân quyến của nhau nên cũng
đến dự đám cưới này.
Nh́n
trong bếp, Ngài nói:
“Lục
thân bị nấu trong nồi”.
Chính
là cha mẹ, anh em, bà con, bè bạn do kiếp trước
đă sát sinh heo, gà quá nhiều để ăn, nay lại
bị đọa làm heo, dê, gà trở lại; rồi bị
giết thịt, bỏ vào nồi chiên nấu trở
lại.
Ngài
nói tiếp:
“Mọi
người đều vui vẻ chúc mừng nhau”
Mọi
người đến dự đám cưới
đều rất vui vẻ mà chúc tụng nhau. Ngài tự
than với ḿnh rằng:
“Trông
thấy cảnh ấy mà ḷng đau xót, ta biết đó
chính là những oán nghiệp xoay vần vay trả, tạo
nên nỗi khổ chất chồng”.
Thiền
sư Chí Công biết rơ nhân quả khi nh́n vào gia đ́nh này.
Làm sao chúng ta có thể hiểu được hết
chuỗi nhân quả của từng gia đ́nh với trùng
trùng khác biệt nhau ra sao. Cho nên những người tu
đạo phải rất cẩn trọng trong khi tu nhân, v́
khi nhân duyên chín mùi sẽ gặt lấy quả tương
ứng với nhân đă gieo. Tại sao người lại
trở lại làm người? Là để trả nợ,
trả những món nợ nhân quả ở thế gian.
Nếu quí vị không t́m cách trả món nợ này th́ nợ
nần vẫn tiếp tục, như món nợ đă vay
của ngân hàng vậy.
Tôi
nhớ một câu chuyện này nữa. Có một gia đ́nh
nuôi một con lừa, dùng nó để kéo cối xay và chuyên
chở. Người chủ thấy lừa quá chậm
chạp nên thường dùng roi đánh nó để thúc
giục. Con lừa làm việc miệt mài trong cực
nhọc cho đến khi chết. Nó được
đầu thai làm người. Khi người chủ hay
đánh đập lừa chết, lại đầu thai
làm một người phụ nữ. Khi cả hai người
này đến tuổi thành hôn th́ họ cưới nhau.
Quí
vị có biết cặp vợ chồng này sống với
nhau như thế nào không? Suốt ngày người chồng
đánh đập người vợ. Ông đánh vợ
bất kỳ lúc nào, bất luận đang cầm vật
ǵ trên tay, cả lúc đang ăn cơm cũng đánh
vợ bằng đũa. Ông ta vừa đánh vừa
chửi, cho dù người vợ chẳng làm điều ǵ
sai trái.
Một
hôm Thiền sư Chí Công đi qua nhà họ. Người
phụ nữ bèn thưa với Ngài:
-
Chồng con ngày nào cũng đánh và chửi con qúa chừng
mà con không biết tại sao. Bạch Ngài, xin Ngài hăy dùng
ngũ nhăn, lục thông bảo cho con biết mối
tương quan nhân quả của chúng con đời
trước ra sao mà đời này chồng con đánh
đập và chửi mắng con hoài vậy?
Thiền
sư Chí Công đáp:
-
Tôi sẽ nói rơ tương quan nhân quả của hai
người cho mà nghe. Trong đời trước, bà là
một người đàn ông. Ngày nào bà cũng đánh
đập chửi mắng con lừa, thúc giục nó
phải kéo cối xay bột.
Ông
chủ ấy thường đánh con lừa bằng cái
chổi tre. Nay ông chủ được đầu thai
lại làm người phụ nữ, đó chính là bà. C̣n con
lừa th́ được đầu thai làm người
chồng. Nay ông ta thường hay đánh đập
chửi mắng bà cũng như kiếp trước bà
đă thường đánh chửi ông tức là con lừa
vậy. Nay bà đă hiểu rơ nhân quả tương quan
với nhau rồi, tôi sẽ bày cho một cách để
chấm dứt ṿng oán nghiệp này. Bà hăy cất giấu
tất cả mọi dụng cụ trong nhà ngoại
trừ cái chổi đuôi ngựa (chổi dây). Khi
người chồng thấy chẳng c̣n vật ǵ dùng
để đánh cô, anh ta sẽ cầm chổi dây này
để đánh. Cứ để cho anh ta đánh vài
trăm roi, th́ nợ cũ của bà mới được
trả. Lúc đó, bà mới báo cho anh ta biết nhân
đời trước và quả đời sau báo ứng
với nhau rất rơ ràng như tôi vừa giải thích cho
bà. Anh ta sẽ không c̣n đánh bà nữa.
Người
phụ nữ làm đúng như lời Thiền sư Chí
Công chỉ dạy. Khi người chồng về
đến nhà, ông ta liền kiếm vật ǵ đó
để đánh vợ. Chỉ c̣n thấy chiếc
chổi đuôi ngựa, ông ta cầm lấy và đánh. Thông
thường như mọi khi, cô ta t́m cách chạy trốn.
Nhưng lần này cô ta kiên nhẫn ngồi đó chịu đ̣n
cho đến khi ông chồng ngừng tay.
Thấy
lạ, ông ta hỏi tại sao bà không bỏ chạy. Cô ta
kể lại việc được Thiền sư Chí Công
giải thích cặn kẽ tương quan nhân quả
của hai người. Ông chồng nghe xong ngẫm nghĩ:
“Như thế th́ từ nay ta không nên đánh chửi cô ta
nữa. Nếu c̣n đánh, th́ kiếp sau cô ta sẽ
đầu thai trở lại rồi t́m ta để
đánh chửi”. Từ đó ông chồng không c̣n đánh
mắng người vợ nữa.
Thế
nên quí vị phải biết mọi người
đều có sự quan hệ với nhau tương
ứng với nhân đă tạo. Quí vị chẳng thể
nào biết được trong đời trước, ai
đă từng là mẹ, là anh, là cha hay là chị em của
ḿnh. Cái nhân đă tạo ở đời trước
sẽ tạo thành quả đời này và nhất
định có liên quan đến bà con quyến thuộc
của ḿnh. Nếu quí vị hiểu được
đạo lư nhân quả, th́ quí vị có thể chuyển
hóa, biến cải được nhân bằng cách từ
bỏ những việc ác.
C̣n
một chuyện nữa về Thiền sư Chí Công.
Một ngày Ngài ăn hai con chim bồ câu. Ngài rất thích món
ăn này. Người đầu bếp nghĩ rằng món
thịt bồ câu chắc là rất ngon nên ngày nọ anh ta
quyết định nếm thử. Anh ta làm việc này
với hai ư nghĩ: một mặt là muốn thử xem
thức ăn hôm nay ḿnh làm có ngon hay không? một mặt khác
anh ta nghĩ rằng Ngài Chí Công ngày nào cũng thích ăn
bồ câu, nhất định đây là một món ăn
rất ngon, nên muốn thưởng thức một chút
rồi mới đem đến cho Thiền sư dùng.
Khi
người đầu bếp mang thức ăn
đến. Ngài nh́n đĩa thức ăn và hỏi:
-
Hôm nay có ai nếm trộm thức ăn này? Có phải chính
anh không?
Người
đầu bếp liền chối. Thiền sư liền
bảo:
-
Anh c̣n chối. Tôi sẽ cho anh thấy tận mắt ai là
người nếm trộm. Hăy nh́n đây!
Ngài
liền ngồi ăn. Ăn hết hai con bồ câu
rồi, Ngài liền há miệng rộng, trong đó, một
con bồ câu liền vẫy cánh bay ra c̣n con kia th́ bị
mất một cánh, không thể bay lên được.
Thiền
sư mới bảo:
-
Anh thấy đó, nếu anh không nếm trộm th́ tại
sao con bồ câu này không thể bay được?
Chính
là v́ ông đă ăn hết một cánh của nó.
Chuyện
này làm cho anh đầu bếp biết Thiền sư Chí
Công không phải là người thường. Ngài chính là hóa
thân của Bồ – tát. Thế nên Ngài có năng lực
biến những con bồ câu bị nấu thành thức
ăn rồi thành bồ câu sống. Không phải là Bồ –
tát, không làm chuyện này được.
Thiền
sư Chí Công c̣n thường ăn một loại cá
gọi là Tuệ Ngư. Cũng đem cá ra nấu
nướng rồi Ngài ăn từ đuôi lên đầu.
Nhưng sau đó Ngài lại há miệng ra làm cá sống
lại. V́ vậy, những việc này là rất
thường đối với cảnh giới của hàng
Bồ – tát. Thiền sư Chí Công là một vị Bồ –
tát, nhưng không bao giờ Ngài nói: “Các ngươi biết
không, ta là một vị Bồ – tát, ta đang giáo hóa chúng
sanh, ta có đại nguyện này, hạnh nguyện kia…” Các
vị không bao giờ mong khởi ư niệm ấy. Cho nên
chúng ta là hàng phàm phu, dù có thấy Chư Phật hay Bồ –
tát cũng không thể nào nhận biết được.
Việc làm của Bồ – tát cũng gần như hành
xử của người thường, nhưng thực
chất lại không giống nhau. Là v́ phàm phu khi hành
động chỉ nghĩ đến lợi ích của
chính ḿnh, không nghĩ đến sự giúp đỡ cho
người khác. C̣n Bồ – tát th́ chỉ nghĩ
đến lợi ích của người khác mà không nghĩ
đến ḿnh. Khác nhau là ở điểm này. Bồ – tát
th́ tự làm lợi ích cho ḿnh c̣n lo làm lợi ích cho
người khác. Tự giác ngộ ḿnh xong rồi giúp cho
người khác giác ngộ. Tự độ hoàn toàn,
lợi tha hoàn toàn. ư nghĩa của chú Đại Bi mà tôi
đang giảng cũng nằm trong đạo lư này
vậy.
14. Tát bà a
tha đậu du bằng
Câu
chú này chia làm ba phần. Khi tŕ tụng lên, câu chú có ba
nghĩa khác nhau:
Tát bà có nghĩa là “tất cả”. C̣n có
nghĩa là “b́nh đẳng”. Nên Tát bà biểu tượng
cho ư thứ hai trong mười tâm, là “b́nh đẳng tâm”.
A
tha đậu dịch nghĩa là “phú lạc vô bần” giàu
có, an lạc, không nghèo nàn về tâm linh, đạo lư,
Phật pháp.
C̣n
dịch nghĩa là “như ư bất diệt”.
“Như
ư” nghĩa là ước nguyện điều ǵ cũng
đều được thành tựu.
“Bất
diệt” nghĩa là sự thành tựu do nguyện ấy
vĩnh viễn không tiêu mất.
Trong
mười loại tâm th́ đây là “vô vi tâm” nghĩa là “phú
lạc vô bần” và “như ư bất diệt”.
Du
bằng dịch là “nghiêm tịnh vô ưu”, là thanh tịnh và
trang nghiêm. Trang nghiêm lại thêm thanh tịnh, cho nên không có
sự lo phiền, ưu năo. Câu chú này biểu tượng
cho tâm thứ chín “Vô kiến thủ tâm”. Kiến thủ là
một trong năm món “ngũ lợi sử”. Nghĩa là khi
quí vị vừa trông thấy một vật ǵ, tâm liền
khởi niệm muốn chiếm đoạt, giữ
lấy. Nên với tâm thứ chín – vô kiến thủ tâm là
trạng thái không có mảy may vọng động về
sự chấp thủ đối với pháp và ngă;
đối với chủ thể cũng như khách
thể; đối với ngoại cảnh cũng như
ḍng chuyển biến của thức tâm.
15. A thệ
dựng
A
thệ dựng la tiếng Phạn, dịch nghĩa “vô
tỷ pháp”. Không có pháp nào có thể so sánh được
với pháp này. C̣n có nghĩa là “vô tỷ giáo” nghĩa là không
có đạo giáo nào có thể so sánh được. Câu chú
này biểu tượng cho tâm thứ bảy,
được gọi là “ty hạ tâm”, là tâm rất cung kính
và tùy thuận bất kỳ người nào ḿnh gặp. Câu
chú này c̣n biểu tượng cho tâm thứ tám, gọi là “vô
tạp loạn tâm”. Đây chính là pháp thanh tịnh, không chút
cấu nhiễm, chính là pháp bát nhă tâm của Quán Thế Âm
Bồ – tát.
Mười
loại tâm này là tướng của Đà - la – ni, chúng ta
phải đem những đạo lư này hành tŕ không xao nhăng
và gián đoạn. Chúng ta tu tập theo tinh thần của
kinh Đại bi tâm Đà la ni th́ chắc chắn sẽ
thành tựu đạo nghiệp, đắc thành chánh
quả.
16. Tát bà
tátđá, na ma bà tát đa, na ma bà già
Tát
bà tát đá là tiếng Phạn, dịch là “Đại thân
tâm Bồ – tát”.
Na
ma bà tát đa. Hán dịch là “đồng trinh khai sĩ”, là
tên gọi khác của pháp vương tử, cũng là hàng
Bồ – tát. “Đồng trinh” biểu tượng cho
bản tánh. C̣n “khai sĩ” cũng là một danh hiệu khác
của Bồ –tát, có nơi gọi là “đại sĩ”. Các
vị Bồ – tát lúc sắp thành tựu Phật quả,
đều được gọi là pháp vương tử,
tên gọi của hàng Thập địa Bồ – tát.
Na
ma bà già. Hán dịch là “Vô đẳng đẳng”. Giống
như ư nghĩa trong Bát nhă tâm kinh “Cố tri Bát – nhă ba – la –
mật - đa, thị đại thần chú, thị
đại minh chú, thị vô lượng chú, vô đẳng
đẳng chú”.
Quí
vị có thể hỏi: “Cái ǵ không thể sánh bằng?”
“Đó là bà già, Hán dịch là Thế tôn”. Bà già là chư
Phật thường trụ ở khắp trong mười
phương.
17. Ma
phạt đạt đậu
Ma
phạt đạt đậu dịch nghĩa là “Thiên thân,
thế hữu”.
Câu
chú này có nghĩa là: “Kính lạy chư Bồ – tát, xin hăy
duỗi ḷng từ cứu giúp con. Xin các Ngài hăy là thân
quyến ở cơi trời của chúng con và là người
bạn ở cơi thế gian này của chúng con, để
hộ tŕ cho mọi thiện pháp được thành
tựu”.
Câu
chú này thỉnh nguyện sự gia tŕ của mười
phương chư Phật và chư Bồ – tát.
18. Đát
điệt tha - án
Trong
Bát nhă tâm kinh có nói: “Cố thuyết Bát nhă Ba la mật đa
chú, tức thuyết chú viết...”
Đát
điệt tha Hán dịch là “tức thuyết chú viết”.
C̣n dịch là “Sở vị”. Bồ – tát Quán Thế Âm dùng
Tâm đại bi mà nói ra chơn ngôn này, nói bằng các
chủng tự của Phạm Thiên.
Đát
điệt tha c̣n có nghĩa là “thủ ấn” nghĩa là
kết ấn bằng tay. Cũng gọi là “trí nhân” nghĩa
là khai mở con mắt trí tuệ của chúng sinh.
Đát
điệt tha lại c̣n có nghĩa là vô lượng pháp môn
tu học và trí huệ nhăn vô lượng. Đó là ư nghĩa
của “Sở vị”.
Chữ
án như đă nói ở trước, khi quí vị tŕ
niệm tŕ niệm đến chữ án th́ quỷ thần
đều phải chắp tay cung kính, lắng nghe
người niệm chỉ giáo. Chữ án c̣n có công năng
lưu xuất nhiều pháp môn sau đây.
19. A bà lô hê
A
bà lô hê chính là Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là “quán
sát”. Dùng trí tuệ để quán sát mọi âm thanh oqr
thế gian. Trong thế gian có nhiều loại âm thanh.
Bồ – tát Quán Thế Âm quán sát âm thanh, tiếng kêu than
cầu xin cứu khổ của người ở thế
gian khi họ không thể vượt qua nổi những
khổ nạn.
20. Lô ca
đế
Lô
ca đế nghĩa là “Tự tại” hoặc là “Thế
Tôn”. Hợp lại hai câu trên A bà lô hê lô ca đế
nghĩa là Bồ – tát dùng trí tuệ để quán sát âm thanh
ở thế gian. Chính là danh hiệu của Bồ – tát Quán
Thế Âm.
21. Ca ra
đế
Ca
ra đế dịch là “Bi giả” là người có ḷng
từ bi rộng lớn, thường cứu giúp chúng sinh
thoát khỏi khổ đau và thất vọng. Người
mà có thể cứu giúp cho chúng sinh vơi bớt khổ
đau là một người “đại bi”. Ca ra đế
c̣n có nghĩa là “tác giả”. Người có thể làm cho
đạo nghiệp sinh khởi, giúp cho mọi chúng sinh
đều phát tâm bồ - đề, phát nguyện làm những
việc khó làm như hành Bồ – tát đạo để
tiến tới tựu thành Phật quả.
22. Di hê
rị
Di
hê rị dịch nghĩa là “Thuận giáo”. Khi quí vị tŕ
tụng đến câu chú này, nghĩa là quí vị tự phát
nguyện: “Con nhất quyết thực hành theo hạnh
nguyện của Bồ – tát Quán Thế Âm, sẽ giáo hoá cho
tất cả chúng sanh. Con nguyện nương theo giáo pháp
Ngài đă dạy mà tu hành”.
Di
hê rị c̣n có nghĩa là “Y giáo phụng hành”. Nương
theo lời dạy của Bồ – tát Quán Thế Âm cũng
như Quán Thế Âm của tự tâm để thực
sự tu tŕ.
23. Ma ha
bồ đề tát đoả
Ma
ha có nghĩa là “đại” là to lớn.
Bồ
- đề có nghĩa là “giác đạo”, là giác ngộ
được đạo lư chân chính.
Tát
đoả. Hán dịch là “đại dũng mănh giả”.
Câu này có nghĩa chư vị Bồ – tát là người phát
tâm đại bồ - đề rất dũng mănh và phát
tâm tu hạnh Bồ đề. Phát bồ đề tâm
nghĩa là gieo trồng nhân giác ngộ, tu bồ - đề
hạnh là vun trồng, tưới tẩm cho hạnt
giống bồ - đề đă gieo được
nảy mầm, rồi mới mong gặt được
quả giác ngộ, tức là quả vị Vô thượng
bồ - đề.
Đây
là ư nghĩa của câu chú Ma ha Bồ đề tát
đoả. Câu chú này thuyết minh về công hạnh trang
nghiêm viên măn của chư vị Bồ – tát là do
định huệ song tu. Khi Định đă lắng trong
th́ Huệ cũng được chiếu sáng. Khi Huệ
đă viên măn, th́ Định viên dung. V́ Bồ – tát Quán
Thế Âm đă đạt được định
lực viên măn, nên xuất sinh trí tuệ sáng suốt. V́
Bồ – tát đă đạt được trí tuệ viên
măn, nên Ngài mới đạt được định
lực lắng trong. Không có Định th́ chẳng có
Huệ và không có Huệ th́ chẳng đạt
được Định. Nên gọi định huệ
không hai là vậy.
Do
nhờ tu tập vô số công hạnh mà Bồ – tát
được trang nghiêm thân tướng nên chư vị
không rời bỏ một pháp nào dù nhỏ bé hoặc vô cùng
vi tế. Dù một việc thiện nhỏ nhất, cho
đến lớn nhất, chư vị Bồ – tát
đều hoàn tất chu đáo. Nên kinh có dạy”
“Chớ
khinh việc thiện nhỏ mà không làm
Chớ
xem thường việc ác nhỏ mà không tránh”.
Các
vị Bồ – tát thường siêng năng làm các
điều thiện và dứt khoát từ bỏ các việc
ác, chư vị phát bồ - đề tâm và đạt
được quả vị giác ngộ Vô thượng
bồ - đề. Chư vị trang nghiêm pháp thân bằng
vô số công hạnh. Chư vị phát đại bi tâm,
thực hành đại pháp vô duyên từ tuỳ theo tâm
lượng của chúng sinh mà làm Phật sự. Nhưng
chính các vị Bồ – tát, tự bản tánh và bản
thể của các Ngài không hề gợn một mảy may
tướng trạng của chúng sinh tâm. Các Ngài tự
thấy ḿnh và toàn thể chúng sinh có đồng một
thể tánh, không hề phân hai. Các Ngài không chỉ chịu
khổ cho riêng ḿnh, mà ước nguyện giúp cho chúng sinh
thoát khỏi mọi khổ luỵ. Dù các Ngài chuyển hoá
tất cả mọi sự thống khổ cho chúng sinh mà
không hề dính mắc chút nào vào việc ḿnh có độ
thoát cho chúng sinh. Các Ngài không bao giờ tự cho rằng:
“Tôi
đă cứu độ cho anh rồi, nay anh phải cám
ơn tôi. Tôi đă giúp anh thoát khỏi mọi phiền năo,
anh phải tỏ ra biết ơn tôi”.
Chính
v́ chư vị Bồ – tát không có tâm niệm như vậy,
nên các Ngài mới có thể ứng hiện ba mươi hai
thân tướng, để kịp thời đáp ứng
mọi tâm nguyện của mọi loài chúng sinh. Chẳng
hạn như cần ứng hiện thân Phật để
độ thoát chúng sinh, th́ chư vị Bồ – tát liến
ứng hiện thân Phật để giảng dạy giáo
pháp cho chúng sinh khiến họ được giải thoát.
Nếu cần thiết hiện thân Bích Chi Phật, th́ các
Ngài liền ứng hiện thân Bích Chi Phật để
giáo hoá chúng sinh, giúp họ được giải thoát.
Cũng như vậy, các Ngài có thể ứng hiện thân A
la hán, vua chúa... để giúp cho chúng sinh được
độ thoát. Chư vị Bồ – tát có khả năng
hóa hiện thành ba mươi hai ứng thân để
cứu độ các loài chúng sinh. Các Ngài cũng có được
mười bốn pháp vô uư và bốn pháp bất khả
tư ngh́. Đó là bốn loại thần thông diệu
dụng không thể nghĩ bàn. Các Ngài đă chứng
đạt được quả vị chân thật viên
thông, đă thành tựu quả vị Vô thượng bồ
- đề. Đó là sự thành tựu quả vị
của Bồ – tát Quán Thế Âm.
24. Tát bà tát
bà
Tát
bà tát bà. Hán dịch là “nhất thiết lợi lạc”. Câu
chú này bao hàm cả Bảo thủ nhăn ấn pháp, nghĩa là
mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi
người.
Bằng
cách hành tŕ ấn pháp này, quí vị có khả năng đem
sự an vui lợi lạc đến cho hết thảy
mọi loài chúng sinh. Thiên vương, Diêm vương,
Quỷ vương đều chấp hành theo người
tŕ tụng ấn chú này. Quí vị bảo họ: “Hăy
thả tội nhân này ra” th́ Diêm vương liền tức
khắc thả ra liền. V́ sao vậy? V́ quí vị đă
có được Bảo ấn này.
Bảo
ấn này cũng như ấn của vua vậy. Trên
chiếu thư có ngọc ấn của vua th́ khắp thiên
hạ, ai có trách nhiệm ǵ cũng phải tuân theo chiếu
thư mà thi hành, không ai dám chống lại. Với Bảo
ấn, quí vị có thể làm lợi lạc, an vui cho
mọi loài chúng sinh. Quí vị có thể chỉ bảo cho
họ biết sự lợi lạc để phát
nguyện hành tŕ. Và sẽ đạt được sự
an lành. V́ vậy nên gọi là “Nhất thiết lợi
lạc”.
Người
Trung Hoa đều biết có một vị Tiên, biết
sử dụng một ấn chú gọi là “Phiên thiên ấn”.
Người con của Quảng Thành vương cũng có một
phiên thiên ấn. Chính là ấn này vậy. Đạo Lăo
gọi là “Phiên thiên ấn”. Bồ – tát Quán Thế Âm gọi
là “Bảo ấn”.
Nếu
quí vị dụng công hành tŕ th́ nhất định sẽ
thành tựu Bảo ấn này. Khi thành tựu rồi,
nếu có người vừa mới chết hoặc
sắp chết, quí vị chỉ cần tŕ ấn này vào
một tờ giấy, và viết vài ḍng cho Diêm vương:
“Hăy tha cho người này sống lại ngay. Hăy tha cho anh ta
trở về dương gian”. Diêm vương không dám
từ chối. Diệu dụng của Bảo ấn có
thể giúp cho người chết sống lại. Nhưng
để sử dụng được Bảo ấn này,
trước hết quí vị phải thành tựu công phu tu
tập đă. Nếu công phu chưa thành tựu th́ chẳng
có kết quả ǵ.
Thế
nào nghĩa là thành tựu công phu tu hành? Cũng giống
như đi học. Trước hết, quí vị phải
vào tiểu học, rồi lên trung học, rồi thi vào
đại học. Rồi cuối cùng có thể
được học vị Tiến sĩ.
Tu
tập để thành tựu Bảo ấn này cũng
như đạt được học vị Tiến
sĩ vậy. Nhưng tạm ví dụ vậy thôi, chứ
Bảo ấn này không có ǵ so sánh được.
Tát
bà tát bà nghĩa là “lợi lạc cho tất cả mọi
loài chúng sinh”. Quí vị thấy sự diệu dụng vô
biên đến như thế. Nên gọi ấn này là Bảo
ấn. Nếu quí vị muốn sử dụng
được Bảo ấn này th́ phải công phu tu tŕ qua
cả bốn mươi hai thủ nhăn. Tát bà tát bà chỉ
là một trong bốn mươi hai ấn pháp ấy mà thôi.
Có
người nghe tôi giảng như vậy sẽ khỏi
nghĩ rằng: “Ta sẽ tu tập Bảo ấn này ngay
để bất kỳ lúc nào có người sắp
chết, ta sẽ sử dụng ấn này, ra lệnh cho
Diêm vương không được bắt người
ấy chết”. Quí vị cứ thực hành, quí vị có
thể giúp người kia khỏi chết, như ng
đến khi quí vị phải chết, th́ chẳng có
người nào giúp quí vị thoát khỏi chết bằng
Bảo ấn này cả.
Tôi
đă có dịp sử dụng ấn này hai lần. Một
lần ở Măn Châu và một lần ở Hương
Cảng. Lần ở Măn Châu là trường hợp cứu
một người sắp chết. Người này
chắc chắn sẽ chết nếu tôi không sử
dụng Bảo ấn này. Vào một chiều trời
mưa ngày 18 tháng 4 âm lịch. Một người tên là Cao
Đức Phúc đến chùa Tam Duyên, nơi tôi đang
ngụ. Anh ta quỳ trước tượng Phật,
cầm một cây dao bọc trong giấy báo, chuẩn
bị sẵn sàng chặt tay để cúng dường
chư Phật. Quí vị nghĩ sao? Anh ta khôn ngoan hay không?
Dĩ nhiên là quá ngu dại. Tuy nhiên sự ngu dại của
anh ta lại xuất phát từ ḷng hiếu đạo. Quí
vị biết không. Mẹ anh ta bị bệnh trầm
trọng gần chết. Do v́ thường ngày mẹ anh ta
nghiện thuốc phiện nặng. Nhưng bệnh bà quá
nặng đến mức hút thuốc phiện cũng không
được nữa. Bà ta nằm co quắp, chẳng
ăn uống ǵ. Đầu lưỡi đă trở sang
màu đen, môi miệng nứt nẻ. Bác sĩ Đông, Tây y
đều bó tay, không hy vọng ǵ c̣n chữa trị
được. Nhưng người con trai của bà
nguyện: “Lạy Bồ – tát rất linh cảm, con
nguyện đến chùa Tam Duyên chặt tay cúng dường
chư Phật. Với ḷng chí thành, con nguyện cho mẹ
con được lành bệnh”.
Ngay
khi chàng trai sắp chặt tay, có người nắm tay anh
ta lôi lại đằng sau rồi nói: “Anh làm ǵ thế, anh
không được vào đây mà tự sát”.
Anh
ta trả lời:
-
“Tôi chỉ chặt tay cúng dường chư Phật,
cầu nguyện cho mẹ tôi được lành bệnh.
Ông đừng cản tôi”.
Chàng
trai chống lại, nhưng người kia không để
cho anh ta chặt tay nên liền cho người báo cho Hoà
thượng trụ tŕ biết. Hoà thượng cũng
không biết phải làm sao, Ngài liền phái cư sĩ Lư
Cảnh Hoa, người hộ pháp đắc lực
của chùa đi t́m tôi.
Dù
lúc ấy, tôi vẫn c̣n là chú Sa – di. Tôi được giao
nhiệm vụ như là tri sự ở chùa Tam Duyên, chỉ
dưới Hoà thượng trụ tŕ. Tôi chỉ là một
chú tiểu, nhưng không giống như những chú
tiểu cùng ăn chung nồi, cùng ngủ chung chiếu. Tôi
thức dậy trước mọi người và ngủ
sau tất cả mọi người. Tôi làm những
việc mà không ai muốn làm và chỉ ăn một ngày
một bữa trưa, không ăn phi thời. Tu tập chính
là sửa đổi những sai lầm vi tế. Nếu
khi chưa chuyển hoá được những lỗi
lầm nhỏ nhặt ấy, có nghĩa là ḿnh c̣n thiếu
năng lực trong công phu.
Hoà
thượng trụ tŕ giao việc đó cho tôi. Tôi liền
đến bạch Hoà thượng:
-
“Phật tử đến cầu Hoà thượng cứu
giúp. Nay Hoà thượng lại giao cho con. Hoà thượng
làm cho con thật khó xử”.
Hoà
thượng trụ tŕ bảo:
-
“Con hăy đem ḷng từ bi mà cứu giúp họ”.
Hoà
thượng dạy những lời rất chí lư. Tôi
vốn chẳng ngại khó nhọc, nên khi nghe những
lời đó, tôi rất phấn khích, tôi thưa:
-
Bạch Hoà thượng, con sẽ đi.
Tôi
bảo chàng trai:
-
Anh hăy về nhà trước, tôi sẽ theo sau.
Anh
ta nói:
-
Nhưng thầy chưa biết nhà con?
Tôi
đáp:
-
Đừng bận tâm về tôi. Hăy cứ về nhà
trước.
Lúc
ấy là vào khoảng năm giờ chiều, mặt
trời vừa xế bóng. Anh ta đi theo đường
lộ chính, c̣n tôi đi theo đường ṃn. Nhà anh ta cách
chùa chừng sáu dặm. Anh ta quá đỗi sửng sốt
khi về đến nơi, anh ta đă thấy tôi ngồi
đợi anh trong nhà.
-
Bạch thầy, sao mà thầy biết nhà con mà đến
sớm thế?
Tôi
nói:
-
Có lẽ anh vừa đi vừa chơi, hoặc anh ham xem
bóng đá hay truyền h́nh ǵ đó.
Cậu
ta đáp:
-
Thưa không, con cố hết sức đi thật nhanh
để về nhà.
Tôi
nói:
-
Có lẽ xe đạp của anh đi không được
nhanh như xe tôi, nên tôi đến trước.
Ngay
khi vào thăm bà mẹ, tôi thấy không thể nào cứu
sống bà ta được. Nhưng tôi vẫn quyết
định cố gắng hết sức để cứu
bà. Tôi dùng Bảo ấn viết mấy ḍng:
“Chàng
trai này có tâm nguyện rất trí thành, nguyện chặt tay
cúng dường chư Phật để cứu mẹ
sống. Tôi đă ngăn cản anh ta chặt tay. Bằng
mọi cách, xin cho mẹ anh ta được sống”.
Tôi
gửi Bảo ấn đi, sáng hôm sau bà ta vốn đă
nằm bất động suốt bảy, tám ngày nay,
chợt ngồi dậy gọi con trai bằng tên tục.
-
Phúc ơi... Phúc ờ... mẹ đói quá, cho mẹ tí cháo...
Chàng
trai suốt bảy, tám ngày nay không nghe mẹ gọi. Nay
cực kỳ vui sướng. Anh ta chạy đến bên
giường nói với mẹ:
-
Mẹ ơi, mẹ đă nằm liệt giường
suốt tám ngày nay. Nay mẹ khoẻ rồi chứ?
Bà
ta trả lời:
-
Chẳng biết bao lâu nữa. Mẹ bị rượt
chạy trong một cái hang tối đen thăm thẳm
không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng ánh sao hay
đèn đuốc ǵ cả. Mẹ chạy và cứ
chạy hết ngày này qua ngày khác để t́m
đường về nhà ḿnh. Mẹ có kêu, nhưng
chẳng ai nghe. Cho đến đêm hôm qua, mẹ mới gặp
một vị sư khổ hạnh mang y cà sa đă ṃn
cũ, vị này đă dẫn mẹ về nhà... Con cho
mẹ ăn tí cháo loăng để cho đỡ đói.
Người
con nghe mẹ nói đến vị sư, liền hỏi:
-
Nhà sư mẹ gặp dung mạo như thế nào?
Bà
đáp:
-
Ngài rất cao. Nếu mẹ được gặp
lại, mẹ sẽ nhận ra ngay.
Lúc
đó tôi đang nghỉ trên giường. Anh ta liền
đến bên tôi, chỉ cho mẹ và hỏi:
-
Có phải vị sư này không?
Bà
nh́n tôi chăm chú rồi kêu lên:
-
Đúng rồi, chính thầy là người đă đưa
mẹ về nhà.
Lúc
đó, toàn gia quyến chừng mười người,
gồm cả già trẻ, đều quỳ xuống
trước mặt tôi thưa:
-
Bạch Thầy, Thầy đă cứu mẹ con sống
lại. Nay toàn gia đ́nh chúng con cầu xin được
quy y thọ giới với Thầy. Bất luận nhà chùa
có việc ǵ, con nguyện đem hết sức ḿnh xin làm
công quả, và tuân theo lời chỉ dạy của Thầy
để tu hành.
Về
sau, dân cả làng này đều đến chùa xin quy y và
cầu xin tôi chữa bệnh cho họ. Tôi bảo:
-
Tôi chỉ có phép chữa bệnh bằng cách đánh đ̣n.
Quí vị có chịu th́ tôi chữa.
Họ
đồng ư và tôi phải chữa. Có nghĩa là bắt
người bệnh nằm xuống, đánh một
người ba hèo bằng cái chổi tre. Đánh xong, tôi
hỏi:
-
Đă hết bệnh chưa?
Thật
là ngạc nhiên. Họ lành bệnh thật!
Đó
là một chuyện phiền phức xảy ra ở Măn Châu.
Lần thứ 2 tôi dùng Bảo ấn này là ở
Hương Cảng. Khi bố của cô Madalena Lew 79
tuổi bị bệnh. Các vị bói toán đều bảo
rằng ông ta chắc chắn sẽ qua đời trong
năm nay. Ông ta đến gặp tôi xin quy y Tam Bảo
để cầu nguyện gia hộ cho ông được
sống thêm ít năm nữa.
Ông
thưa:
-
Bạch Thầy. Xin Thầy giúp cho con được
sống thêm một thời gian nữa.
Tôi
bảo:
-
Thế là ông chưa muốn chết. Tôi sẽ giúp cho ông
sống thêm 12 năm nữa? Được chưa?
Ông
rất mừng vội đáp:
-
Thưa vâng, được như thế thật là
đại phúc.
Rồi
tôi chú nguyện cho ông ta và ông ta được sống thêm
12 năm nữa.
Tuy nhiên, quí vị không nên dùng ấn pháp này
để giúp cho người ta khỏi chết hoặc là
cứu họ sống lại khi họ đă chết
rồi. Nếu quí vị làm như vậy, quí vị
trở nên đối đầu với Diêm vương. Lúc
ấy Diêm vương sẽ nói:
-
Được rồi. Thầy đă giúp cho người ta
khỏi chết, nay Thầy phải thế mạng.
Đến
khi quí vị gặp cơn vô thường; chẳng có ai
dùng Bảo ấn này để giúp được cả.
Nếu quí vị nghĩ rằng ḿnh có thể sử
dụng Bảo ấn để cứu ḿnh khỏi
chết là quí vị lầm. Diệu dụng của ấn
pháp cũng giống như lưỡi dao, tự nó không
thể cắt đứt được chuôi dao của
chính nó. Nên khi quí vị gặp bước đường
cùng, th́ cũng giống như chuyện vị Bồ – tát
bằng đất nung:
Bồ
Tát bằng đất nung đi qua biển.
Khó
ḷng giữ thân được vẹn toàn.
Vậy
nên nếu quí vị dù đă thông thạo trong khi sử
dụng ấn pháp này, cũng phải công phu hành tŕ thêm. V́
lư do này mà tôi ít để ư đến việc riêng của
người khác nữa.
25. Ma ra ma ra
Hai
câu chú này, Hán dịch là “tăng trưởng”. Cũng có
nghĩa là “như ư” hoặc “tuỳ ư”. Đó là công năng
của Như ư Châu thủ nhăn, làm tăng trưởng
phước huệ, làm cho mọi việc đều
được tốt lành như ư.
“Như
ư” nghĩa là tuỳ thuận với tâm nguyện mà
được đáp ứng.
Quí
vị có thấy lợi ích vô biên của ấn pháp này không?
V́ vậy nên công năng ấn pháp này là thứ nhất trong
bốn mươi hai thủ nhăn ấn pháp. Diệu
dụng của Như ư Châu thủ nhăn vượt ngoài
sự diễn tả bằng ngôn ngữ.
Nếu
quí vị muốn giàu có, hăy hành tŕ theo thủ nhăn ấn pháp
này. Một khi đă thành tựu rồi, th́ quí vị sẽ
có được mọi thứ và không c̣n bận tâm v́ nghèo
khổ nữa. Quí vị luôn luôn giàu có và được vô
lượng phước lạc.
26. Ma hê ma hê
rị đà dựng
Ma
hê ma hê. Hán dịch là “Vô ngôn cực ư”
“Vô
ngôn” nghĩa là không cần phải nói nữa.
“Cực
ư” có nghĩa là ư niệm kia đă đạt đến
chỗ tối thượng, đă đạt chỗ vi
diệu rồi.
Ma
hê ma hê cũng c̣n có thể dịch là “tự tại”.
Tự tại như Đại Phạm Thiên Vương:
không buồn, không phiền, không lo, không giận. Suốt
ngày đều được tự chủ và an vui.
Đây là “ngũ sắc vân thủ nhăn”. Khi
biết ấn này, sẽ làm lưu xuất ra mây lành ngũ
sắc, và hành giả sẽ đạt được
năng lực tự tại phi thường. Diệu
dụng và năng lực tự tại của ấn pháp
này thực là vô lượng vô biên.
Rị
đà dựng là “Thanh Liên Hoa thủ nhăn”. Có nghĩa là “Liên
hoa tâm”. Khi quí vị hành tŕ ấn pháp này thành tựu, sẽ
được mùi hương hoa sen xanh toả ra, và
được mười phương chư Phật tán
thán. Sự vi diệu thật khó có thể nghĩ bàn.
Đúng là:
Pháp
Phật cao siêu thật nhiệm mầu
Trăm
ngàn ức kiếp khó t́m cầu!
27. Cu lô cu lô
yết mông
Cu
lô cu lô. Hán dịch là “tác pháp”, hoặc dịch là “tác
dụng trang nghiêm”, lại c̣n có nghĩa là “xuy loa giải
giới”. Đây ta chính là Bảo loa thủ nhăn ấn pháp.
Nay
chúng ta đang sống trong thời mạt pháp. Nhiều
người nghĩ rằng chỉ cần tŕ tụng chú
Đại Bi là khế hợp với chân tinh thần
Phật pháp rồi, nhưng thực ra không phải thế.
Chú Đại Bi là gọi thay cho bốn mươi hai
thủ nhăn ấn pháp và diệu dụng của chú
Đại Bi là diệu dụng của bốn mươi
hai thủ nhăn ấn pháp, đó chính là toàn thể của chú
Đại Bi. Nếu quí vị chỉ biết tŕ niệm
chú Đại Bi mà không hành tŕ bốn mươi hai thủ
nhăn ấn pháp th́ như người có tay mà không có chân, nên
không thể đi được. Mặt khác, nếu quí
vị chỉ biết hành tŕ bốn mươi hai thủ
nhăn ấn pháp mà không tŕ niệm chú Đại Bi th́ cũng
như người có chân mà không có tay, không làm ǵ
được cả. Cũng vô dụng mà thôi. Vậy nên
để liễu triệt chú Đại Bi, trước
hết quí vị phải thông đạt bốn mươi
hai thủ nhăn ấn pháp rồi phải tŕ tụng chú
Đại Bi nữa, mới được gọi là
người thành tựu rốt ráo diệu pháp này của
chư Phật.
Không
phải chỉ vừa mới nghe pháp sư giảng về
chú Đại Bi xong rồi liền nói:
- “à! Tôi đă hiểu được câu chú
đó nghĩa là ǵ rồi”.
Hiểu
như thế cũng chẳng ích lợi ǵ cả. Cũng
giống như người có thân thể nhưng chẳng
có tay chân ǵ cả. Quí vị đă có đủ cả thân
thể, tay chân, phải giúp cho chúng hoạt động
phối hợp với nhau mới làm nên phước
đức được.
Bảo
loa thủ nhăn ấn pháp là dùng để tác pháp khi quư
vị kiến lập đạo tràng, quư vị nên dùng
Bảo loa ấn pháp này. Khi quư vị tác pháp này th́ những
âm thanh vang lên tận cơi trời, thấu tận địa
ngục. Khắp cơi nhân gian, và khắp mọi nơi
đều có ảnh hưởng. Bất kỳ mọi
nơi nào nghe đến âm thanh này đều ở trong
sự điều khiển của người tŕ ấn
pháp. Các loài yêu ma quỷ quái đều phải tuân phục,
không thể xâm hại. Đây c̣n gọi là sự kiết
giới.
ấn pháp này c̣n gọi là “tác dụng trang
nghiêm”. Có nghĩa là dùng cơn lốc quang minh tâm lực
của Bảo loa ấn pháp sẽ tạo nên một pháp âm
vi diệu, khiến cho đất bằng hoá thành vàng ṛng,
đều được trang nghiêm bằng bẩy thứ
châu báu. Thật là vi diệu khó thể nghĩ bàn. Quư vị
Phật tử đang tu học Phật Pháp nên biết
rằng trong 300 năm trở lại đây, không có ai hành
tŕ được bốn mươi hai thủ nhăn ấn
pháp và cũng chẳng có ai thông hiểu được các
ấn pháp này.
Nay
chúng ta đă hiểu được chú Đại Bi, chúng
ta nên chí thành và phát tâm kiên cố hành tŕ bốn mươi
hai thủ nhăn ấn pháp này. Rồi sẽ có
được diệu dụng.
Yết
mông là tiếng Phạn, vốn là ngôn ngữ của
Đại phạm thiên, chứ không phải là ngôn ngữ
của ấn Độ, nhưng văn pháp ngôn ngữ
ấn Độ cũng căn cứ trên ngôn ngữ
của Đại phạm thiên.
Yết
mông là tiếng Phạn. Hán dịch là “biện sự”,
cũng dịch là “công đức”. Có nghĩa là làm tất
cả mọi việc có công đức lợi lạc cho
mọi người. Làm việc lợi lạc công
đức cho mọi người cũng chính là tạo công
đức cho chính ḿnh. Bồ – tát thực hành hạnh
tư lợi và lợi tha, tự giác ngộ giải thoát
cho ḿnh và giác ngộ giải thoát cho người khác.
Câu
chú này nói đến sự thực hành lục độ và
vạn hạnh. Đó chính là Bạch Liên Hoa thủ nhăn
ấn pháp. Hăy tưởng tượng quí vị đang
cầm trong tay đoá hoa sen trắng. Tay quí vị cầm
cành hoa sen và miệng tŕ niệm chú Yết mông yết mông...
Không
những quí vị tŕ tụng chú mà c̣n hành tŕ mật ấn.
Khi tŕ tụng cả hai pháp này, quí vị mới có thể
tạo nên mọi công đức. Khi quí vị tŕ tụng
chú Đại Bi, đồng thời cũng thông hiểu
được cách hành tŕ bốn mươi hai thủ nhăn
ấn pháp th́ quí vị mới có thể thành tựu lục
độ vạn hạnh. Diệu dụng bất khả
tư ngh́, không bao giờ nói hết được. Nếu
có thể nói được chỗ nhiệm mầu ấy
th́ nó phải có ngần mé. Mà những điều mầu nhiệm
th́ không có hạn lượng, không có chỗ khởi
đầu và kết thúc. Với sự tŕ niệm Yết
mông, quí vị có thể thành tựu được vô
lượng công đức. Trong nhiều đời sau, quí
vị măi măi được trang nghiêm bởi hương
thơm của hoa sen trắng và luôn luôn được
hộ tŕ.
Sự
vi diệu, mầu nhiệm của chú Đại Bi dù có tán
thán cũng không bao giờ hết, không bao giờ cùng
tận.
28.
Độ lô độ lô, phạt già ra đế
Độ
lô độ lô. Hán dịch là “độ hải” nghĩa là
vượt qua biển khổ sinh tử. C̣n dịch
nghĩa “minh tịnh”.
Khi
đă vượt qua biển khổ sinh tử rồi, quí
vị sẽ đạt được trí tuệ sáng
suốt, chứng nhập bản thể thanh tịnh,
đến được bờ bên kia, tức thể nhập
Niết Bàn. Từ trong bản thể sáng suốt thanh
tịnh ấy, trí tuệ sẽ được lưu
xuất, quí vị sẽ hiểu rơ được tất
cả mọi pháp môn, chắc chắn quí vị sẽ chấm
dứt được ṿng sinh tử. Với đại
định, tâm quí vị hoàn toàn thanh tịnh. Đó là
định lực, khi quí vị có được
định lực chân chánh th́ có thể văng sanh ở cơi
tịnh độ tươi sáng, đó là thế giới
Cực Lạc.
Đây
là Nguyệt Tịnh Ma Ni thủ nhăn ấn pháp, là diệu
pháp Đà - la – ni do Bồ – tát Nguyệt Quang tuyên thuyết.
ấn pháp Nguyệt Tịnh thủ nhăn này có công năng
đưa mọi người đến chỗ sáng
suốt và an lạc.
Phạt
già ra đế là Bàng Bi thủ nhăn ấn pháp.
Phạt
Già Ra đế. Hán dịch là “Quảng bác trang nghiêm”, c̣n có
nghĩa là “Quảng đại”. Cũng dịch là
“độ sinh tử”. Nếu quí vị tu tập hành tŕ
Bàng Bi thủ nhăn ấn pháp này th́ quí vị có thể
vượt qua biển khổ sinh tử, có nghĩa là
giải thoát. Nếu quí vị không công phu hành tŕ ấn pháp
bàng bi thủ nhăn này, th́ không thể nào vượt thoát
bể khổ sinh tử, đến bờ giải thoát,
niết bàn được.
29. Ma ha
phạt già da đế
Câu
chú này có nghĩa là “Tối thắng, đạipháp
đạo”.
Pháp
là quảng đại, tối thắng và đạo
cũng quảng đại, tối thắng. Pháp
đạo là chân lư vượt lên trên tất cả mọi
sự thù thắng nhất trên đời.
Đây
là Bảo Kích thủ nhăn ấn pháp. ấn pháp này có công
năng hàng phục các loại thiên ma và ngoại
đạo. Công năng của ấn pháp này rất lớn.
Chẳng hạn ấn pháp này có thể bảo vệ
quốc gia chống nạn ngoại xâm. Nếu quốc gia
của quí vị sắp bị xâm lăng, và nếu quí
vị hành tŕ ấn pháp này th́ vô h́nh trung, quân giặc
bắt buộc phải rút lui.
30. Đà la
đà la
Tiếng
Phạn rất khó hiểu. Ngay cả những ai đă
học tiếng Phạn thông thạo rồi cũng khó có
thể hiểu được mật chú và giảng
giải rơ ràng được. Tôi chỉ nhờ hiểu
một chút ít thần chú Đại Bi mà thôi.
Đà
là đà la là Tịnh b́nh thủ nhăn ấn pháp. Trong tịnh
b́nh này chứa nước cam lồ. Bồ – tát Quán Thế
Âm dùng cành dương liễu rưới nước cam
lồ lên khắp chúng sanh trong sáu đường. Bất
luận ai gặp nạn khổ hay bệnh tật ǵ,
nếu được Bồ – tát Quán Thế Âm rưới
nước cam lồ th́ đều giải thoát khỏi tai
nạn ấy.
Đà
la đà la. Hán dịch là “Năng tổng tŕ ấn”, là tâm
lượng của toàn chúng sinh. Chính là Bồ – tát Quán
Thế Âm dùng Cam lồ thủ nhăn ấn pháp, Tịnh b́nh
thủ nhăn ấn pháp và Dương chi thủ nhăn ấn
pháp – tất cả ba ấn pháp ấy để
rưới nước cam lồ lên toàn thể chúng sinh,
cứu độ chúng sinh ra khỏi tam đồ lục
đạo.
31.
Địa lỵ ni
Địa
lỵ ni. Hán dịch rất nhiều nghĩa. Thứ
nhất là “thậm dơng” nghĩa là dũng khí mănh liệt.
Cũng có nghĩa là “tịnh diệt hoặc khiết
tịnh”.
“Thậm
dũng” là dạng tướng động.
“Tịnh
diệt” là dạng tĩnh.
C̣n
dịch là “Gia tŕ và thôi khai”.
-
“Gia tŕ” có nghĩa là làm cho các ác pháp đều
được chuyển hoá, hướng về phụng
hành theo thiện pháp.
-
“Thôi khai” là làm cho các nghiệp chướng, tai nạn
của chúng sinh đều được tiêu trừ.
Đây
là Cu thi thiết câu thủ nhăn ấn pháp. Gọi tắt là
thiết câu ấn pháp, có công năng làm cho tất cả
quỷ thần, thiên long bát bộ đến hộ tŕ cho
hành giả. Nếu quí vị công phu hành tŕ thành tựu thủ
nhăn này, th́ có thể bảo thiên long làm mưa và sẽ có
mưa ngay, nếu hành giả cần có gió, họ sẽ làm
ra gió ngay, khi hành giả muốn mưa gió đừng hoành
hành thế gian nữa, mưa gió sẽ hết ngay.
Quí
vị sẽ nói: “Tôi không tin như vậy”. Đúng vật!
Đó chính là lư do mà tôi muốn nói cho quí vị nghe, tất
cả chỉ là v́ quí vị không tin. Không có niềm tin và
không ở trong cảnh giới này th́ khó ḷng hiểu
nổi.
Nếu
muốn, quí vị có thể hỏi những người
vừa mới từ Đài Loan trở về ngày hôm nay
về cơn mưa ở Đài Loan. Khi tôi nói chuyện
với Phật tử ở Đài Loan qua điện
thoại, họ cho biết trời đang mưa và rất
lạnh. Họ mong muốn thời tiết được
ấm áp và bớt mưa. Tôi bảo họ hăy yên tâm,
chuyện đó sẽ xảy ra. Họ lại thắc
mắc:
-
Sư phụ có thể khiến trời hết mưa hay
sao?
Tôi
chỉ nói vắn tắt:
-
Quí Phật tử hăy đợi xem trời có tạnh
mưa hay không?
Ngay
khi tôi vừa cúp điện thoại, th́ trời bắt
đầu tạnh ráo. Họ đều cho đó là
chuyện lạ kỳ. (Những ai đă đến
Đài Loan năm 1969 để dự giới đàn,
đều có thể chứng kiến chuyện này. Trời
mưa dầm ở Keelong Đài Loan ít nhất cũng là 48
ngày, nhiều nhất là 53 ngày. Chúng tôi đang ở Đài
Loan để thọ giới. Cả tự viện không c̣n
chất đốt, một khi củi đă bị
ướt rồi, th́ không c̣n cách nào để sưởi
cho khô lại được. Tuy nhiên,vào sáng ngày 18/4 như
đă nói ở trên, đúng ngay lúc chúng tôi vừa chấm
dứt cuộc điện đàm th́ mặt trời
vừa hiện ra, bầu trời trở nên sáng trong và khí
trời trở nên ấm áp liền. Chú thích của
người dịch từ Hoa văn sang Anh Ngữ).
Thực
ra, đó chẳng phải là ǵ khác, chính là năng lực
của thiết câu thủ nhăn ấn pháp. Quí vị chỉ
cần kiết ấn và gọi: “Thiên long, đừng làm
mưa nữa!” th́ trời sẽ dứt mưa ngay. Loài
rồng sẽ chấp hành theo lệnh của quí vị và
chỉ khi quí vị đă thành tựu ấn pháp này và đă
thông thạo thiết câu thủ nhăn. Rồng phun mưa
sẽ tuân theo ấn pháp này và đ́nh chỉ việc làm
mưa liền.
Quí
vị sẽ nghĩ là tôi nói đùa nhưng đúng là
như vậy. Bây giờ, tôi đang giảng kinh cho quí
vị nghe và tôi đang nói với quí vị bằng chân
ngữ. Đây không phải là chuyện nói đùa.
32. Thất
phật ra da
Mỗi
khi quí vị niệm Thất Phật ra da th́ toàn pháp
giới này có một luồng chớp sáng phát ta. Cứ
mỗi niệm Thất Phật ra da là có một luồng
quang minh phóng ra bao trùm cả vũ trụ.
Thất
Phật ra da được dịch là “phóng quang”. C̣n
dịch là “tự tại”. Phiên âm từ tiếng Phạn
“Isara” như trong chữ “Avalokihesvara”. ở đây có
nghĩa là “Quán”, v́ có quán chiếu thâm sâu rồi mới
được “tự tại”. Nếu quí vị không có
sức quán chiếu thâm sâu, th́ quí vị sẽ không
đạt được năng lực tự tại.
Quán
chiếu nghĩa là hướng vào bên trong tự tâm mà công
phu chứ không phải hướng ra ngoại cảnh bên
ngoài. Nghĩa là hướng vào bên trong mà quán chiếu không
ngừng. Hăy tự hỏi: “Ta có hiện hữu hay không?”.
Ông chủ có hiện hữu trong chính tự thân quí vị
hay không? Quí vị có làm chủ được ḿnh hay không?
Mặt mũi xưa nay của ông chủ có hiện hữu
hay không? Thường trụ chơn tâm thể tánh thanh
tịnh có hiện hữu hay không? Nếu những cái đó
đều hiện hữu, có nghĩa là quí vị
đạt được tự tại. C̣n nếu không
hiện hữu, có nghĩa là quí vị không có
được tự tại.
Sự
phóng quang cũng mang ư nghĩa tự tại. Nếu quí
vị đạt được năng lực tự
tại, th́ quí vị có thể phóng quang. Nếu chưa có
được năng lực tự tại, th́ không
thể phóng quang được.
Thất
Phật ra da cũng được dịch là “Hoả
diệm quang”, cũng gọi là Hoả quang. Đó là
lửa, nhưng không phải là lửa phát sinh từ
tập khí phiền năo, như quí vị thường nói:
“Tôi vừa nổi nóng như lửa”. Đó cũng không
phải là lửa xuất phát từ sự sân hận,
phẫn nộ, căm hờn của quí vị, mà đó
chính là lửa trí tuệ. Đó cũng chính là nước
từ trí tuệ tiết ra để dập tắt
lửa vô minh. Trí tuệ chân chính hiển lộ khi lửa
vô minh bị dập tắt. Đó chính là Hoả Diệm
Quang.
Khi
quí vị tŕ tụng Thất Phật ra da tức là quí
vị đang phóng quang. Nhưng trước tiên quí vị
phải có được năng lực tự tại.
Không có năng lực tự tại th́ quí vị không
thể nào phóng quang được. Hăy nhớ kỹ
điều này.
Đây
là Nhật Tinh Ma Ni thủ nhăn ấn pháp. ấn pháp này có
công năng chữa trị bệnh mắt mờ không
thấy rơ. Dùng ấn pháp này khiến cho mắt
được sáng lại.
33. Giá ra giá
ra
Giá
ra giá ra dịch nghĩa là “hành động”. Đó là hành
động như quân đội thi hành một mệnh
lệnh hành quân. Hành quân là một mệnh lệnh nếu
quí vị không tuân hành, có nghĩa là chống lệnh.
Đây
là Bảo đạc thủ nhăn ấn pháp. Khi quí vị rung
chuông, âm thanh vang lên khắp không gian, thông cả thiên đàng,
chấn động cả địa giới. Nếu quí
vị cần thực hiện việc ǵ, chỉ cần
rung chuông lớn, các loài chư thiên, thiện thần, yêu ma
quỷ quái đều tuân theo mệnh lệnh của quí
vị. Chẳng hạn như khi có động đất,
quí vị chỉ cần rung chuông lên rồi ra mệnh
lệnh: “Quả đất không được rung lên
như vậy”, trái đất trở về trạng thái
yên b́nh ngay.
Bảo đạc thủ nhăn ấn pháp
cực kỳ diệu dụng. Nếu quí vị muốn hát
với một âm điệu tuyệt vời, th́ hăy công phu
hành tŕ ấn pháp này. Khi công phu thành tưu rồi, tiếng
hát của quí vị trong suốt như tiếng đại
hồng chung vang lên trong không gian.
34. Ma ma
phạt ma la
Ma
ma. Hán dịch là “ngă sở thọ tŕ”. Đó chính là một
loại mệnh lệnh hành động. Có nghĩa là
“mọi việc tôi làm bảo đảm chắc chắn
phải được thành tựu”.
Ma
ma là Bạch phất thủ nhăn ấn pháp. ở Trung Hoa,
các đạo sĩ và Tăng sĩ Phật giáo
thường sử dụng phất trần, các vị cao
tăng thường cầm phất trần khi đăng
bảo toạ để thuyết pháp.
Bạch phất thủ nhăn ấn pháp có công
năng trừ sạch mọi nghiệp chướng
của thân, trừ được mọi chướng
nạn và bệnh tật. Chỉ cần phất lên thân vài
lần là có thể tiêu trừ mọi nghiệp
chướng và chữa lành mọ ma chướng sinh ra
bệnh tật.
Bạch
phất thủ nhăn ấn pháp có rất nhiều công
dụng, nhưng người biết cách dùng ấn pháp này
lại rất ít. Tôi biết hiện nay có rất ít
người sử dụng được ấn pháp này.
Năm người Tây phương
đầu tiên vừa đi thọ giới Cụ túc ở
Đài Loan đă trở về. Họ đă trở thành
những vị Tỷ Khưu, Tỷ Khưu Ni chân chính.
Họ vừa về đến phi trường vào lúc 4
giờ 30 chiều nay, chuyến bay 910 của hăng hàng không Trung
Hoa. Ngày nay Phật giáo Giảng Đường đă có
được nhiều xe hơi nên toàn thể Phật
tử hộ pháp trong đạo tràng cũng như toàn
thể Phật tử ở San Francisco – Cựu Kim Sơn –
Hoa Kỳ - đều có thể ra phi trường
để đón mừng các vị tân Tỷ Khưu.
B́nh
thường, tôi chẳng muốn đến phi
trường nhưng trong chuyến bay ấy có chở
về vài tượng Phật, nên tôi ra phi trường
để nghênh đón tượng Phật chứ không phải
để đón các đệ tử của tôi. Các
đệ tử của tôi cũng không cần tôi đón,
cũng chẳng cần đưa. Khi họ đi Đài
Loan thọ giới, tôi đă nói với họ rằng:
“Khi
mê th́ thầy độ
Khi
ngộ rồi tự độ”.
Nay
họ phải tự độ chính họ, họ đă ra
đi, nay lại trở về. Chắc chắn họ
phải tự t́m ra con đường từ phi
trường về chùa. Họ chẳng cần tôi phải
chỉ dẫn: “Quẹo ở đó, đi theo
đường này, đó là đường về chùa”.
Điều
buồn cười nhất là khi họ viết thư báo
cho tôi biết họ đă bỏ quên một thùng Kinh. Tôi
bảo:
“Bỏ
quên kinh chẳng có ǵ quan trọng. Điều quan trọng
chính là không có ai trong các con bị bỏ quên”. Năm
người đi thọ giới và nay năm người
đều đă trở về. Sao vậy? V́ tôi đă mua
bảo hiểm ở chư vị Bồ – tát, nên
để cho bất kỳ ai bị bỏ sót lại là
điều không thể chấp nhận được.
Nếu một người không về, tức là chư
vị Bồ – tát không thực hiện đúng hợp
đồng. Thế nên tôi rất tin tưởng rằng
tất cả các giới tử sẽ trở về và
dịch vụ bảo hiểm của chư vị Bồ –
tát không cần phải thanh toán hợp đồng.
Quí
vị nên nhớ một điều. Những người
thọ giới Cụ túc trở về hôm nay là những
vị Tổ khai sơn của Phật giáo Mỹ quốc.
Đừng xem việc này đơn giản. Điều
này rất chân thực. Đừng như những kẻ
tự cho ḿnh là Phật tử, chỉ nằm ở nhà mà
thích gọi ḿnh là “Tổ tại gia”. Thực vậy, cách
đây vài hôm, có một vị Tổ sư tự phong
đến đây và muốn hát tặng cho tôi nghe. Tôi
giễu cợt ông ta: “Thật chán khi nghe ông hát”. Ông ta
chỉ bật lên: “ồ!”, một tiếng rồi bỏ
đi.
Phạt
ma ra là “Hàng ma kim cang hộ pháp”, tay cầm bánh xe bằng
vàng. Vị hộ pháp này có thể hoá thân lớn như núi
Tu Di.
Phạt
ma ra. Hán dịch là “Tối Thắng Ly Cấu”, có nghĩa
đó là pháp thù thắng nhất, xa ĺa tất cả mọi
cấu nhiễm ở thế gian. C̣n có nghĩa là “vô tỷ
như ư”. V́ không có ǵ có thể sánh với pháp này và tuỳ
tâm nguyện của ḿnh mà mọi điều xảy ra
như ư muốn.
Đây
là Hoá cung Điện thủ nhăn ấn pháp. Nếu quí
vị hành tŕ được ấn pháp này thành tựu, th́
đời đời quí vị sẽ được
sống cùng một trụ xứ với đức
Phật (như trong một cung điện), không c̣n
phải thọ sinh vào các loài thai sinh, noăn sinh và thấp sinh
nữa. Công dụng của sự thành tựu ấn pháp này
là đời đời được sống cùng chư
Phật.
35. Mục
đế lệ
Mục
đế lệ là Dương chi thủ nhăn ấn pháp
của đức Phật. Đó là nhánh cây mà quí vị
thường thấy Bồ – tát Quán Thế Âm cầm ở
một tay, c̣n tay kia Bồ – tát cầm một tịnh b́nh.
Nhành dương này được Bồ – tát nhúng vào
tịnh b́nh rồi rưới lên cho tất cả mọi
chúng sinh bị đau khổ. Nước này không như
nước thường. Đó là nước cam lồ.
Chúng sinh nào được nước này tưới
nhuận sẽ có nhiều lợi lạc. Nước cam
lồ có thể giúp cho mọi chúng sinh thoát khỏi khổ
luỵ đói khát và bản tâm đạt được
thanh lương.
Mục
đế lệ c̣n dịch nghĩa là “giải thoát”. Đó
là giải thoát khỏi mọi khổ nạn, bệnh
tật và chướng ngại. Nên Bồ – tát Quán Thế Âm
thường dùng Dương chi thủ nhăn ấn pháp này
để giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi mọi
bệnh tật, khổ nạn và những điều
bất như ư. Bề ngoài, chú này dường như không
có ǵ quan trọng lắm, nhưng một khi quí vị công
phu hành tŕ ấn pháp này thành tựu rồi, th́ không những
quí vị có thể giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi
bệnh tật và khổ nạn mà c̣n có thể hàng phục
cả thiên ma ngoại đạo. Khi những thiên ma
ngoại đạo được thấm nhuận
nước cành dương này, họ tự nhiên hồi tâm
hướng thiện, thực hành theo chánh pháp. Do vậy,
Dương chi thủ nhăn có diệu dụng vô cùng vô
tận, không thể nghĩ bàn.
Giọt
nước cam lồ từ bàn tay Bồ – tát Quán Thế Âm
không những chỉ giúp cho quí vị thoát khỏi mọi
bệnh tật, khổ nạn mà c̣n có một diệu
dụng khác, khi một người sắp chết, nếu
có phước duyên, được Bồ – tát Quán Thế
Âm rảy nước lồ th́ có thể sống lại.
Tất cả các loài cây cỏ thảo mộc đă khô héo
nếu được nước cam lồ tưới
xuống cũng được hồi sinh. Cây cỏ là loài
vô t́nh, mà khi được nước cam lồ
tưới tẩm c̣n được nảy mầm,
đơm hoa, kết trái như vậy nên chúng sinh là loài
hữu t́nh sẽ được lợi lạc biết
bao. Đó là diệu dụng của Dương chi thủ
nhăn ấn pháp.
36. Y hê y hê
Y
hê y hê là Độc lâu trượng ấn thủ nhăn
ấn pháp. Hán dịch là “thuận giáo”.
Nghĩa
là một khi quí vị nhờ ai làm việc ǵ đó, họ
đều ưng thuận. Khi quí vị dùng chánh pháp
để giáo hoá, họ đều vâng lời. Câu chú này c̣n
dịch là “tâm đáo”. Nghĩa là trong tâm hành giả
ước nguyện điều ǵ, nhờ năng lực
của chú này đều được thành tựu. Câu chú
này khiến cho Ma – hê – thủ – la vương, là một
Thiên ma ngoại đạo thường cho rằng ḿnh là
vĩ đại nhất, cũng phải cung kính chắp
tay đến nghe lời chỉ giáo khi nghe có người
trị tụng thần chú này, không dám trái nghịch. Thế
nên khi quí vị tŕ niệm câu Y hê Y hê, th́ Ma – hê – thủ – la
vương liền đến, bất kỳ tâm nguyện
của hành giả như thế nào, vị này liền thi
hành ngay, đáp ứng đúng như sở nguyện
của người tŕ chú.
37. Thất
na thất na
Câu chú này được dịch là
“Đại trí tuệ”, cũng dịch là “Hoằng thệ
nguyện”. Đây là Bảo cảnh thủ nhăn ấn pháp.
Bảo cảnh được ví như Đại viên
cảnh trí của chư Phật.
Đại trí huệ là ǵ? Đó là
khi chúng sanh không c̣n dính mắc vào vọng tưởng
nữa. Có đại trí huệ, th́ mỗi niệm
đều là biểu hiện của trí bát nhă, mỗi tâm
niệm đều lưu xuất từ Đại Quang
Minh. Nếu quư vị có trí huệ chân chính th́ sẽ có
được Quang Minh. C̣n nếu chưa thể nhập
trí tuệ tự tánh, th́ vẫn c̣n trong màn tối tăm
của vô minh.
Quang minh là ánh sáng dương, c̣n bóng
tối vô minh là âm. Tại sao người ta ngủ tối?
Bởi v́ lực âm trồi lên quá mạnh. Do đâu
người ta có trí tuệ sáng suốt? Bởi v́ ánh sáng
dương lớn mạnh hơn.
Những người có trí tuệ
không có lối suy nghĩ như những kẻ phàm phu.
Họ có khả năng phân biệt rơ ràng chính tà. Họ
không cần phải hỏi người khác, họ biết
mọi điều ngay nơi tự thân của ḿnh. Họ
không đi vào con đường tẻ, họ bước
đi vào ngay chính lộ và hạ thủ công phu. Trong khi hành
tŕ, trước tiên quư vị phải đạt
được trí tuệ. Rồi quư vị phải
biết rơ ràng chính tà để rồi mới tiến vào
con đường chánh lộ và tránh con đường tà
vạy.
Nhưng quư vị không thể nào
biết rơ việc làm nào hư ngụy nên cứ măi khăng
khăng tạo nghiệp ác. Quư vị kôhng thể nào
biết được rơ ràng thế nào là phạm giới,
nên cứ thế mà làm, ráng hết sức để làm cho
được, cứ muốn nh́n cho được dù
thực sự đó là những thứ chướng
ngại. Những hành vi như thế là sự ngu muội
tột cùng, biểu lộ hoàn toàn sự non yếu trí
tuệ.
Ồ! Không – Quư vị có thể
phản đối – Tôi là người có trí tuệ, tôi
chỉ sai lầm trong nhất thời thôi!
Chỉ sai lầm một lần thôi
cũng có nghĩa là vô minh, không có trí tuệ rồi.
Người có đại trí tuệ không hề có tư
tưởng sai lầm. Thế nên Tôn giả A Nan đă phát
nguyện:
Tiêu ngă ức kiếp điên
đảo tưởng
Bất lịch tăng kỳ
hoạch pháp thân.
Nghĩa là:
“Giúp cho con tiêu trừ vọng
tưởng sai lầm trong muôn ức kiếp”.
Khiến con chẳng cần trải
qua a tăng kỳ kiếp mà chứng ngộ
được pháp thân”.
Tôn giả đă phát nguyện tiêu
trừ vọng tưởng không những chỉ một,
hai, ba, bốn, năm hay một trăm kiếp nhưng
trong vô số kiếp.
Nhưng tại sao trong tâm ta lại
có quá nhiều vọng tưởng như thế? Khi
một vọng tưởng đi qua, vọng tưởng
khác kế tiếp theo, và khi vọng tưởng ấy tiêu
mất, vọng tưởng sau lại sinh khởi tiếp
nối. Giống như sóng trên mặt biển. Quư vị
cứ nghĩ rằng đại dương là vật vô
t́nh, nhưng thực sự nó chẳng phải là thứ ở
ngoài tâm quư vị mà có. Biển cả cũng
được lưu xuất từ trong tâm niệm
của chúng sanh. Sóng biển không ngừng nổi lên rồi
ch́m xuống, cũng hoàn toàn giống như vọng
tưởng của chúng sanh chẳng bao giờ ngừng. Nó
liên tục măi. Vọng tưởng trước vừa
biến mất, vọng tưởng sau liền tiếp
nối, vọng tưởng này tiếp nối vọng
tưởng kia, xoay vần tương tục, nối theo
nhau không dứt, như ḍng thác không bao giờ ngừng. Không
có vọng tưởng nào muốn rơi lại
đằng sau cả, chúng đều hoàn toàn muốn phóng
vọt lên phía trước. V́ sao mà quư vị lại mắc
phải quá nhiều vọng tưởng như vậy?
Chỉ v́ không có trí tuệ. Nếu quư vị có trí tuệ,
th́ chẳng c̣n mảy may vọng tưởng và sóng cũng
không c̣n xao động nữa. Như trong câu thơ:
Thanh phong đồ lai
Thủy ba bất hưng
Nghĩa là:
“Gió trong lành thổi đến,
Biển không c̣n sóng xao”.
Khi trong công phu mà quư vị
đạt được định lực, cũng
như sóng biển đă lặng yên. Khi có được
định lực th́ nước trí tuệ hiển
hiện, không c̣n một gợn sóng, chẳng c̣n một
niệm vọng tưởng nào nữa. Lúc đó là thanh
tịnh chân thực. Đó là lúc:
“Nhất trần bất nhiễm
Vạn lự giai không”
Thực vậy, khi một
người không c̣n bị vướng dù chỉ một
hạt bụi vô minh th́ chẳng c̣n phải lo nghĩ
một điều ǵ nữa cả, mọi thứ trên
đời này đều là không. Đó chính là biểu
hiện của đại trí tuệ.
Người có trí tuệ
thường thành công trong bất kỳ mọi việc, c̣n
người thiếu trí tuệu thường bị
thất bại trong bất kỳ việc ǵ mà họ nhúng
tay vào. Do vậy nên trí tuệ là vô cùng quan trọng.
Ngu muội là ǵ? Vô minh chính là ngu
muội. Ngu muội cũng chỉ là từ vô minh mà ra. Khi
vô minh sinh khởi, con người hoàn toàn bị mất sáng
suốt. Quư vị hăy hỏi một người vừa
mới làm một việc sai lầm xong th́ rơ:
-
Tại sao
anh lại làm việc đó?
Họ sẽ trả lời:
-
Tôi không rơ
nữa …
Đó chính là do ngu muội, do sự
thiếu sáng suốt, thiếu trí tuệ. Nhưng dù họ
hành động mê lầm do vô minh, nhưng họ lại
không chịu từ bỏ vô minh. Họ lại khăng
khăng:
-
Tôi biết
chứ. Tôi biết nó sai mà! Thật là quái lạ. Con
người mê muội chỉ do v́ không có trí tuệ, không
đạt được Đại viên cảnh trí,
v́ họ không chịu công phu hành tŕ Bảo cảnh
thủ nhăn ấn pháp. Nếu họ tu tập ấn pháp
này, th́ sẽ không c̣n ngu muội nữa; bất luận
chuyện ǵ xảy ra. Đó là khi:
Phùng quỷ sát quỷ
Phùng Phật sát Phật
Đây cũng như việc cầm
một cây dao thật bén, chặt ngay mọi vọng
tưởng vừa lóe lên. Đại trí tuệ cũng
như một con dao bén hay c̣n được ví như thanh
gươm.
Quư vị có thể nói: “Gươm
trí tuệ rất nặng, không, không dễ ǵ cầm
kiếm ấy được”! Đó là v́ quư vị
chưa từng cầm nó. Thực ra, sử dụng
kiếm này chẳng cần sử dụng chút sức
lực nào cả. Nếu quư vị chưa từng cầm
nó lên th́ thấy nó quá nặng. Nếu quư vị đă
cầm lên rồi, th́ thấy nó nhẹ. Nếu quư vị
không chịu cầm lên, th́ nhẹ biến thành nặng.
Nếu quư vị chịu cầm lên, th́ nặng biến
thành nhẹ. Sao vậy? V́ quư vị đă cầm lên
rồi!
Nếu quư vị nói: “Tôi biết
rằng gươm trí tuệ rất quan trọng, nhưng
quá nặng. Tôi không thể nhấc lên nổi”. Và quư vị
không sờ tới gươm. Thế nên gươm trí
tuệ càng nặng thật. Nhưng một khi quư vị
đă sờ vào kiếm, đă vung gươm lên rồi th́
mọi sự hiểu biết đều bén nhọn như
lưỡi gươm, chẳng c̣n một chút rắc
rối nào nữa cả. Thế nên tôi thường nói
với quư vị rằng:
“Mọi việc đều tốt
đẹp cả”.
Chính là phát xuất từ đạo lư này. Nếu quư vị
gặp nhiều việc rắc rối, là v́ quư vị không
có thanh gươm trí tuệ. Nếu quư vị có
được thanh kiếm trí tuệ ấy, th́ sẽ chẳng
c̣n chuyện ǵ rắc rối nữa cả. Màu nhiệm là
ở điểm này.
Núi sông đất liền, lâu đài
nhà cửa, thế giới y báo cũng như chánh báo
đều không vượt ra ngoài tâm niệm hiện
tiền của chúng ta.
Cái ǵ là thế giới ư báo? Núi sông,
đất liền, lâu đài nhà cửa gọi là thế
giới y báo. Thế giới chánh báo là thân tâm của chúng
ta, chính là nơi mà con người chúng ta thọ nhận
sự báo ứng. Nếu quư vị đă hiểu
được sự báo ứng khi chính ḿnh thọ
nhận, nghĩa là quư vị không c̣n vô minh nữa. Không c̣n
vô minh nghĩa là có trí tuệ. Điều này
được ví như tấm gương:
Vật lai tắc ánh
Vật khứ tắc không.
Nghĩa là: “Vật đến
liền chiếu. Vật biến hoàn không”. Tấm
gương chẳng lưu giữ dấu vết ǵ cả.
Kẻ trí thường thản nhiên với mọi
chuyện và cứ để nó trôi qua mà ḷng chẳng c̣n
vướng bận điều ǵ.
Mặc dù kẻ trí chẳng lưu
giữ điều ǵ lại trong ḷng, nhưng mọi
vật thường tự hiển bày. Và mặc dù nó
thường tự hiển bày nhưng chẳng hề
bị vướng mắc.
Chúng ta là hàng phàm phu, chưa có
được đại trí tuệ, phải nỗ
lực vượt bậc để thường nhớ
tŕ tụng chú Đại Bi, hoặc thường niệm
câu: “Y hê, y hê, thất na, thất na”.
Khi đă tụng một lần
rồi là không c̣n quên nữa, đă tụng được
hai, ba lần, vài trăm lần rồi th́ chẳng thể
nào quên được nữa. Đó là phải cố
gắng để ghi nhớ. C̣n khi quư vị chỉ
cần nh́n hoặc nghe lướt qua một lần
rồi nhớ măi không quên, chẳng cần phải dụng
công ghi nhớ nữa, đó là khi trí tuệ của quư
vị chiếu sáng như một đài gương trong.
Người có trí tuệ đều
biết rằng mọi hiện tượng đều
lưu xuất từ tự tâm của ḿnh. Nếu quư
vị hiểu được điều này th́ ḿnh sẽ không
c̣n tham, sân, si, mạn, nghi nữa. Sao vậy? V́ mọi
sự việc đều lưu xuất từ tâm ḿnh, nên
những thứ vui buồn giận ghét đều là sở
hữu của chính ḿnh. Dù nó tốt hay xấu, cũng
chẳng có vấn đề ǵ cả.
Mặc dù nói về cảnh giới
ấy th́ rất dễ, nhưng tiếp xúc với cảnh
giới ấy không phải dễ dàng ǵ, cần phải có
công phu mới tiếp xúc được với cảnh
giới ấy. Những người không có công phu sẽ
nói:
“Đối với tôi, chẳng có
vấn đề ǵ rắc rối cả”.
Bên ngoài th́ như thế, nhưng
vấn đề rắc rối đang phát sinh và chống
đối với nhau ở bên trong. Những người
có trí tuệ chân chính th́ rất hiếm.
Quư vị cũng nên phân biệt rơ
trí tuệ thế gian và trí tuệ xuất thến gian. Trí
tuệ thế gian c̣n gọi là Thế trí biện thông,
là có thể nhào nặn ngay ra một đạo lư khi nào
cần đến. Nơi nào không có đạo lư, họ có
thể tạo dựng ra, khiến mọi người nghe
rất hợp lư. Những kẻ mê muội nghe họ nói
liền nghĩ rằng:
“Ồ! Họ đề cập
đến những đạo lư rất đúng”. Thực ra, nếu quư vị có
được trí tuệ chân chính, quư vị sẽ không
bị đắm ch́m trong mớ lư luận ngu muội của
họ. Người ta thường nói: “Trong dương
có âm”.
Cũng vậy, trong trí tuệ
cũng có sự ngu muội – sự ngu muội một cách
trí tuệ. Mặt khác, trong âm có dương. Bên trong sự
ngu muội ẩn chứa một trí tuệ. Chẳng
hạn như quư vị có thể thấy một
người chẳng nói năng ǵ cả, dường
như là kẻ quê mùa dốt nát, nhưng anh ta làm những
việc chân chính. Anh ta có thể hiện thân một kẻ
hồ đồ mê muội, nhưng luôn luôn ứng xử
khế hợp với đạo lư. Có rất nhiều
người như vậy.
Khi quan sát người khác, quư vị
sẽ tự chiêm nghiệm ra chính tự thân ḿnh có
được trí tuệ sáng suốt hay không. Nếu quư
vị có trí tuệ chân chính, th́ quư vị không bị
người klhác sai sử, dẫn dắt đến
chỗ sai lầm. C̣n nếu quư vị không có trí tuệ, quư
vị sẽ bị người khác xui khiến làm
điều xằng bậy.
Trí tuệ và ngu muội có một
mối quan hệ trực tiếp. Đó là hai mặt
của một chỉnh thể. Vắng bóng vô minh th́ trí
tuệ hiển bày. Và vô minh sinh khởi khi thiếu vắng
trí tuệ. Trong vô minh có trí tuệ và chính trong trí tuệ có
bóng dáng của vô minh. Sao lại như thế? V́ trí tuệ
và vô minh là một. Nếu quư vị biết vận
dụng, th́ đó là trí tuệ. C̣n nếu không biết
vận dụng th́ đó là vô minh. Chẳng hạn như khi
quư vị nâng thanh gươm trí tuệ lên th́ đó chính là
trí tuệ; c̣n khi quư vị buông thanh gươm ấy
xuống th́ đó là vô minh. Đó không phải là hai mà
chỉ là một. Thế nên quư vị đừng bao
giờ nói rằng ḿnh đang đi t́m kiếm trí tuệ và
đang xua đuổi vô minh. Không ai làm được
việc ấy bao giờ. Chủ yếu chỉ là sự
“hồi đầu”.
Có thể lấy ví dụ của bàn
tay để biểu tượng cho trí tuệ và mặt
kia là biểu hiện cho vô minh. Nếu quư vị muốn
cầm nắm một đồ vật bằng mặt kia
của bàn tay th́ không thể nào làm được cả,
nhưng nếu quư vị dùng chính bàn tay của ḿnh th́
mới lấy được đồ vật. Việc
không lấy được đồ vật là biểu
tượng cho vô minh và việc sử dụng bàn tay để
lấy được vật là biểu tượng cho trí
tuệ. Đó là hai khía cạnh của chỉ một ư
nghĩa chung nhất, tùy thuộc vào sự vận hành
của quư vị.
Có người lại nói: “Nay tôi
đă hiểu rồi. Vô minh và trí tuệ chính là bàn tay
của tôi”. Lại sai lầm nữa! Bàn tay chỉ là ví
dụ. Đừng nên cho rằng trí tuệ và vô minh chính là
bàn tay. Cũng giống như ví dụ ngón tay và mặt
trăng (trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm). Đức Phật
lấy ví dụ dùng ngón tay
để chỉ cho người thấy mặt trăng.
Đừng nhầm lẫn ngón tay chính là mặt trăng.
Thất na thất na là “đại trí tuệ” và c̣n có
nghĩa là “hoằng thệ nguyện” – là phát nguyện
rộng lớn. Khi muốn hoàn thành một việc ǵ,
phải phát thệ nguyện làm cho đến cùng. Như
đức Phật A Di Đà trước khi thành chánh giác,
khi đang tu tập nhân địa với h́nh tướng
của một Tỳ kheo, Ngài đă phát 48 lời nguyện
rộng lớn. Bồ tát Phổ Hiền cũng đă phát
10 Đại nguyện Vương. Bồ tát Quán Thế Âm
cũng phát vô số lời nguyện cũng như các
vị Tổ sư đă từng phát nguyện. Tôi đang
giảng cho quư vị nghe về việc phát đại
nguyện. C̣n có lập nguyện được hay không là
do ở quư vị. Tôi đưa đề tài này ra giảng
v́ tôi đoán chắc là quư vị chưa được
thông hiểu. Nhưng không phải là tôi bắt buộc quư
vị phải phát nguyện. Nay quư vị đang tu học
Phật pháp, mỗi người nên tự ḿnh lập
hạnh nguyện, càng lớn càng tốt. Lập nguyện
càng lớn th́ sự thành tựu càng cao. Hiện nay chúng ta
đều đang tu nhân và chưa ai thành Phật cả,
chúng ta nên phát lời nguyện ở nơi nhân địa
mà tu hành. Mỗi người nên viết rà lời nguyện
của ḿnh thật chi tiết. Đừng phát nguyện
một cách hời hợt, qua loa, cho có nguyện mà phải
thiết thực như: “Con nguyện cứu độ
tất cả mọi loài chúng sanh”.
Thật chứ? Làm sao quư vị có
thể độ chúng sanh được. Khi suốt ngày
quư vị cứ t́m mọi cách để được
ăn ngon, mặc đẹp, ở nơi xa hoa tráng lệ.
Việc cứu độ chúng sanh trước hết là
độ chúng sanh nơi cái miệng chuyên nói lời
vọng ngôn của quư vị, độ cái bụng ham
ăn, độ cái thân ham thích sung sướng của chính
ḿnh trước đă. Cho nên quư vị phải thẳng
thắn và minh bạch trong khi phát nguyện. Hiện tại
ḿnh phát nguyện ǵ? Tương lai sẽ ra sao? Như
ở trong quá khứ, chúng ta có thể quên lăng những ǵ
đă từng ứng dụng tu hành. Nhưng trong
tương lai chúng ta sẽ thực hành điều ǵ?
Mỗi người Phật tử đều phải nên có
lời phát nguyện. Nay ở trong nhân địa, lời
phát nguyện càng lớn th́ trong tương lai, kết
quả sẽ càng cao. Nếu quư vị đặt tất
cả nguyện lực của ḿnh vào một lỗ chân
lông, th́ quư vị có thể phát một thệ nguyện
lớn ngay từ trong lỗ chân lông.
Phát nguyện là một lời
hứa thiêng liêng mà mọi người Phật tử
đều nên thực hiện. Phát nguyện rất quan
trọng, v́ không có nó cũng như không có người
hướng dẫn. Giống như đi đường
mà không biết ḿnh sẽ đi hướng nào, chẳng biết
nên rẽ phải hay nên quẹo trái để đến
đích. Nếu quư vị phát nguyện, cũng như khi du
lịch có người hướng dẫn đường
đi và nơi đến.
Tại sao chư Phật và chư
Bồ tát đều phát nguyện khi tu đạo? V́ khi
đă phát nguyện rồi, ḿnh mới tự ḿnh hành
động tương ứng với nguyện đă
lập. Ví dụ như Bồ tát Địa Tạng khi tu
hành ở nhân địa, Ngài đă phát lời nguyện
vĩ đại:
…“Địa ngục vị không
Thệ bất thành Phật
Chúng sanh độ tận
Phương chứng Bồ
đề”.
Nghĩa là:
“Chúng sanh độ hết
Mới chứng Bồ đề
Địa ngục nếu c̣n
Con chưa thành Phật”.
Nguyện lực này cực kỳ
vĩ đại. Chúng ta cũng nên phát nguyện. Mỗi quư
vị nên phát một hạnh nguyện phù hợp với
những việc hằng ngày quư vị thích làm.
38.
A ra sam Phật ra xá lợi
A ra sam dịch là “Chuyển luân pháp
vương”, tức là vị Đại Pháp Vương
thường chuyển cỗ xe đại pháp,
thường tuyên thuyết diệu nghĩa Đại thừa.
Giáo nghĩa này thậm thâm vi diệu, không ai có thể
diễn nói tường tận được, nhưng
hiện nay quư vị đang được nghe giảng
từng chi tiết rơ ràng.
Đó là ư nghĩa của câu chú này.
Đây là “Chưởng thượng hóa Phật ấn
thủ nhăn ấn pháp”. Quư vị nên hành tŕ ấn pháp này.
Khi thành tựu rồi, đời đời khi
được sinh ra liền thân cận bên Phật
để học hỏi giáo pháp.
Có rất nhiều cách để
giảng giải chú Đại Bi. Chẳng hạn có
một vị pháp sư khác giảng mỗi thủ nhăn này
là danh hiệu của một vị Bồ tát. Chẳng
hạn vị ấy cho rằng: Chưởng thượng
hóa Phật thủ nhăn này là Chưởng thượng hóa
Phật Bồ tát. Đây chính là trường hợp sai
một ly đi một dặm. Sao vậy? ở đây hoàn
toàn chẳng có một vị Bồ tát nào cả. Quư vị
có thể đọc hết cả Tam tạng kinh
điển nếu quư vị muốn nhưng sẽ
chẳng thấy vị Bồ tát nào có danh hiệu là Chưởng
thượng hóa Phật Bồ tát cả.
Có thể nói như thế này: Chưởng
thượng hóa Phật thủ nhăn ấn pháp là pháp tu
của chư vị Bồ tát, chứ không thể gọi
đó là Chưởng thượng hóa Phật Bồ tát.
Nếu gọi như thế là một sai lầm.
Nên khi nói Bảo bát thủ nhăn
ấn pháp quư vị có thể hiểu rằng: Bảo
Bát ấn pháp là pháp tu của chư vị Bồ tát. C̣n
Bảo Bát không phải là danh hiệu của một vị
Bồ tát. Mới đây tôi được xem qua bộ
“Đại Bi Kinh giảng nghĩa” ở Hồng Kông
gửi sang, trong kinh này họ đă giảng bốn
mươi hai thủ nhăn ấn pháp là danh hiệu của
bốn mươi hai vị Bồ tát. Đó hoàn toàn sai
lầm. Bốn mươi hai thủ nhăn ấn pháp trong kinh
là các pháp tu của hàng Bồ tát. Người học
Phật pháp nên ghi nhớ kỹ điểm này, không nên xác
tín mà không căn cứ trên sự thực hiển nhiên. Trong
khi giải thích Phật pháp cho người nghe, quư vị phải
có một lập trường vững chăi, chính xác về
những ǵ ḿnh đưa ra, c̣n không quư vị sẽ
phạm sai lầm.
A ra sam là Chưởng thượng hóa
Phật thủ nhăn ấn pháp mà các vị Bồ tát
đều phải tu hành.
Quư vị lại hỏi: “Bồ tát
nào?”
Đây chẳng phải là một
vị Bồ tát nào riêng biệt cả. Bất kỳ
người nào hành tŕ bốn mươi hai thủ nhăn
ấn pháp th́ người ấy chính là Bồ tát. Bất
luận người nào không tu tập bốn mươi hai
ấn pháp th́ người ấy không phải là Bồ tát.
Nếu quư vị tu tập bốn mươi hai thủ nhăn
ấn pháp được thành tựu th́ có thể minh
chứng rơ ràng quư vị đă dự vào hàng Bồ tát
rồi.
Phật ra xá lợi dịch là “giác thân tử”. Đây là
Sở châu thủ nhăn ấn pháp hoặc là Niệm
châu ấn pháp, là pháp môn của chư vị Bồ tát tu
tập. Khi Bồ tát tu tập thủ nhăn này thành tựu,
th́ chư Phật trong mười phương nhiếp
thọ và tiếp dẫn hành giả đến các thế
giới Phật khắp trong mười phương.
39.
Phạt sa phạt sâm
Phạt sa, phạt sâm dịch là “Hoan ngữ hoan tiếu”.
Có nghĩa là rất hoan hỷ khi giảng nói. C̣n dịch
nghĩa là “Đại trượng phu” và “Vô thượng
sĩ”.
Đây là Bảo cung thủ nhăn
ấn pháp. Khi hành tŕ thành tựu ấn pháp này, nếu là
người tại gia th́ có thể được làm quan
cận thần, người xuất gia có thể chứng
được quả vị A la hán.
40.
Phật ra xá da
Ở câu trên, Phật ra xá
lợi. “Xá lợi”dịch nghĩa là “Giác thân
tử”. C̣n trong câu Phật ra xá da, “xá da” dịch
là “Tượng”: con voi. Nghĩa là khi quư vị đă giác
ngộ rồi, th́ tâm thể quư vị được ví
như một con voi chúa, c̣n được gọi là Pháp vương
tử. Quư vị có thể là Pháp vương tối cao trong
tất cả các pháp môn. Nói chung, ư nghĩa của câu chú này
là: Tâm giác ngộ như một tượng vương cao
quư.
Phật ra xá da là nói về bổn thể của
đức Phật A Di Đà. Đức Phật A Di Đà
là bổn sư của Bồ tát Quán Thế Âm. V́ Bồ tát
Quán Thế Âm tỏ ḷng tôn kính đức bổn sư
của ḿnh nên Bồ tát đă đảnh lễ đức
Phật A Di Đà trong khi tuyên thuyết chú Đại Bi. Nên
đức Phật A Di Đà phóng hào quang để tiếp
độ cho người tŕ chú này.
Phật ra xá da là Tử liên hoa thủ nhăn ấn
pháp. Trong bốn mươi hai thủ nhăn, có Bạch liên
hoa thủ nhăn, Thanh liên hoa thủ nhăn, Hồng liên hoa
thủ nhăn ấn pháp. Khi hành tŕ thành tựu các ấn pháp
này, hành giả sẽ được diện kiến
mười phương chư Phật. V́ vậy Tử
liên hoa thủ nhăn ấn pháp rất trọng yếu.
41.
Hô lô hô lô ma ra
Hô lô hô lô ma ra. Hán dịch là “Tác pháp như ư”.
Cũng dịch là “Tác pháp mạc ly ngă”.
Đây là Kim trọc ngọc
hoàn thủ nhăn ấn pháp.
Trong bốn mươi hai ấn pháp, khi hành giả hành tŕ
bốn mươi hai thủ nhăn ấn pháp này
được gọi là “tác pháp”. “Như ư” nghĩa là tùy
theo tâm nguyện đều được như ư. Khi hành
giả tu tập thành tựu ấn pháp này rồi, th́
mọi việc đều được như tâm
nguyện nên gọi là “Như ư”.
C̣n “Tác pháp mạc ly ngă” có nghĩa
chính hành giả là người tu tập, không phải
người nào khác. Nên khi hành giả tác pháp này, th́ ấn
pháp không rời khỏi hành giả và hành giả không
rời khỏi ấn pháp. Pháp và ngă là một. Thế nên
chẳng có pháp và cũng chẳng có ngă, pháp chấp và ngă
chấp đều không. Đó là ư nghĩa của “Tác pháp
mạc ly ngă”.
Hành tŕ “Kim trọc ngọc hoàn
ấn pháp”. Có thể khiến tất cả chúng sanh
đều vâng theo sự giáo hóa của hành giả. Dạy
họ tu pháp ǵ, họ đều tu theo pháp môn ấy không
sai lệch.
42.
Hô lô hô lô hê rị
Hô lô hô lô. Hán dịch là “tác pháp vô niệm”
cũng dịch là “tác pháp tự tại”. Trong câu chú Hô
lô hô lô ma ra đă giảng ở trước có
nghĩa là “tác pháp như ư”, khi tác pháp vẫn c̣n khởi lên
ư niệm. C̣n trong câu chú Hô lô hô lô hê rị th́
vắng bặt sự khởi niệm khi tác pháp. Nếu khi
hành tŕ ấn pháp này, mà c̣n khởi niệm tức là c̣n
vọng tưởng. Nếu hành giả không khởi
niệm, tức là không c̣n vọng tưởng nên
đạt được khả năng “tác pháp tự
tại” và trở thành người có năng lực Quán
Tự Tại. Đó chính là vị Bồ tát thường
quán sát âm thanh ở thế gian để cứu độ
một cách tự tại, Bồ tát Quán Thế Âm.
Câu chú này là Bảo bát thủ nhăn
ấn pháp, là ấn pháp thứ ba trong số bốn
mươi hai thủ nhăn ấn pháp. Ấn pháp này có công
năng giải thoát cho chúng sanh khỏi những tai
ương bệnh hoạn.
Các vị xuất gia khi gặp
người bệnh, tŕ chú này vào trong ly nước, cho
người bệnh uống th́ có thể được
khỏi bệnh. Nếu bệnh không lành, th́ phải quán sát
lại toàn bộ nhân duyên. Nếu gặp duyên lành, khi quư
vị uống nước có tŕ chú Đại Bi th́ liền
được lành bệnh, là do đă đặt hết
niềm tin vào Bồ tát Quá Thế Âm. Nếu không
được lành bệnh, có thể là do quư vị
thiếu ḷng tin nơi Bồ tát.
Sự thực là như vậy, nay
tôi sẽ truyền pháp này cho quư vị luôn. Để cho ly
nước có tŕ chú Đại Bi, có được năng
lực như vậy, quư vị không cần phải tŕ
tụng toàn văn bài chú này, mà chỉ cần tŕ tụng câu
Hô lô hô lô hê rị năm lần rồi dùng tay
kiết ấn ba lần búng vào phía trên ly nước.
Rồi trao cho người bệnh uống sẽ
được khỏi hẳn. Có khi bệnh không lành, có khi
bệnh lành hẳn. Tất cả đều tùy thuộc
vào nhân duyên giữa hành giả và người bệnh.
Nếu quư vị có nhân duyên sâu dày với người
bệnh, th́ khi họ uống xong nước có tŕ chú
Đại Bi liền được khỏi bệnh. C̣n
nếu người bệnh không có duyên với hành giả,
th́ dù họ có uống nước đă tŕ chú, nhưng v́
họ không có niềm tin ở Bồ tát Quán Thế Âm, th́
bệnh họ không được lành hẳn.
Nói chung có vô lượng nhân duyên
để tạo thành pháp duyên cơ bản này. Nếu
người bệnh đă có công phu hành tŕ và phát tâm chí thành,
khi uống nước có tŕ chú vào là liền khỏi
bệnh. C̣n nếu quư vị có tu tập nhưng thiếu
ḷng chí thành, thiếu sự tin tưởng vào chú
Đại Bi th́ dù uống nước đă tŕ chú cũng
chẳng ích lợi ǵ. C̣n nếu quư vị có tâm chí thành và dù
không tu tập đi nữa, th́ khi uống nước
đă tŕ chú cũng có được sự lợi ích.
Những người vốn đă tạo nghiệp
chướng sâu dày, nếu được uống
nước đă tŕ chú vào th́ không đủ tạo nên
nặng lực để chuyển hóa bệnh của
họ. C̣n nếu người có nghiệp nhẹ khi uống
nước đă tŕ chú vào th́ có thể phát sinh năng
lực to lớn. Đó là năng lực do thường
xuyên tŕ niệm chú Đại Bi, đă tạo ra một
năng lực cảm ứng đạo giao. Chính năng
lực này đă chữa lành bệnh.
Thế nên bất luận
trường hợp nào, có trùng trùng duyên khởi quyết
định sự thành công. Đừng nghĩ rằng: “Tôi
đă hành tŕ Bảo bát thủ nhăn ấn pháp, tôi đă
tŕ chú Đại Bi vào trong nước, tại sao chẳng
có chút nào hiệu nghiệm?”
Đó chẳng phải là
nước tŕ chú Đại Bi không có hiệu nghiệm.
Chỉ v́ công phu của quư vị chưa được
đắc lực, nên hiệu quả không được
bao nhiêu.
Có một số phái ngoại
đạo cũng dùng pháp tŕ chú Đại Bi vào
nước để chữa bệnh và đạt
được công hiệu linh ứng. Đó là v́ họ có
sự trợ giúp của loài thiên ma khiến cho
người được lành bệnh tin vào họ,
rồi dẫn dắt vào hàng quyến thuộc của thiên
ma ngoại đạo. V́ thế, tuy cũng hành tŕ một
pháp môn mà có thiên sai vạn biệt kết quả.
Dùng nước Đại Bi
để chữa bệnh cho người là một pháp môn
thực hành Bồ tát đạo. Nhưng quư vị muốn
tu pháp này trước hết phải thực hành mọi
hạnh nguyện của hàng Bồ tát. Phải luôn luôn
giữ tâm niệm “vô ngă”, “vô nhân”. Nghĩa là trong tâm không c̣n
bốn tướng: ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả
nữa. Quư vị đừng nghĩ rằng: “Tôi
chữa lành bệnh của chúng sanh được, khi tôi
tŕ chú Đại Bi, tôi tạo ra được sự cảm
ứng vô cùng lớn lao”.
Nếu quư vị khởi niệm
như thế, nghĩa là quư vị đă khởi dậy ngă
chấp. Với ngă chấp ấy, liền bị rơi vào
ma chướng, dù quư vị không có tâm niệm ngă chấp
nhưng rất dễ bị gặp ma chướng khi tu
tập pháp môn này. Bệnh nào cũng do nghiệp chướng
hoặc ma chướng. Nếu bệnh v́ nghiệp, th́
chẳng có vấn đề ǵ khi quư vị chữa trị
cho họ. C̣n nếu bệnh do ma chướng, khi quư
vị chữa trị cho họ có nghĩa là quư vị tuyên
chiến với ma vương, nó có thể hăm hại quư
vị. Nếu đạo lực của quư vị chưa
đầy đủ, quư vị có thể bị thu phục
vào cảnh giới của ma. C̣n nếu quư vị có
được đạo lực và tạo được
đôi chút ảnh hưởng với chúng, th́ chúng sẽ
liên tục t́m mọi cách để đánh bại quư
vị.
Tôi vốn thích chữa bệnh cho
mọi người nên khi có ai bị bệnh, tôi t́m mọi
cách để chữa cho họ. Nhưng sau đó, tôi
phải đối đầu với ma chướng
rất trầm trọng. Ở Măn Châu, có một loài
thủy quái muốn d́m chết tôi, nhưng nó thất
bại. Tuy vậy, có 50 – 60 người bị chết và
hơn 800 căn nhà bị thủy quái này phá hủy. Sau
đó, trên đường đi từ Thiên Tân đến
Thượng Hải, loài thủy quái đó lại t́m cách
lật thuyền của tôi, chỉ chút xíu nữa là tôi
biến thành thức ăn của cá. Từ đó mỗi
khi đi hoằng hóa đây đó, tôi thường ít khi
chữa bệnh.
Thế nên chữa bệnh là cách
tốt nhất để kết duyên, nhưng đó
cũng rất dễ kết oán với quyến thuộc
nhà ma. Nó có điểm tốt và cũng có điểm không
hay. Nếu quư vị làm việc đó mà tâm niệm không
vướng mắc vào bốn tướng: ngă, nhân, chúng
sanh, thọ giả th́ quư vị có thể xoay chuyển
mọi t́nh huống. C̣n nếu quư vị không tự
chuyển hóa mọi tâm niệm của chính ḿnh khỏi
bốn tướng trên th́ rất dễ rơi vào ma
chướng. Cho nên, kết duyên với chúng sanh qua việc
chữa bệnh cho họ là một vấn đề
đ̣i hỏi năng lực tu tập rất cao.
43. Ta ra ta ra
Quư vị nghe âm vang của câu chú này
rất hùng, phải không? Ta ra Ta ra dịch là “Kiên
cố lực”, là thần lực rất mạnh mẽ,
không một thứ ǵ có thể lay chuyển
được.
Kiên cố lực này có thể phá
hủy và hàng phục tất cả các loài thiên ma ngoại
đạo.
Đây là Kim cang xử thủ nhăn
ấn pháp. Công năng của ấn pháp này là hàng
phục tất cả các loại ma oán.
44. Tất lỵ tất lỵ
Tất lỵ Tất lỵ có
ba nghĩa: Thứ nhất là “dơng mănh” như trong
chiến trận, người dơng mănh là luôn luôn chiến
thắng, không hề bị đánh bại. Nghĩa thứ
hai là “thù thắng” nghĩa là vượt lên trên
tất cả sự hoàn hảo, không bao giờ bị
thất bại. Thứ ba nghĩa là “cát tường”.
V́ khi hành giả có được sự dơng mănh mới có
được sự thắng vượt mọi
chướng ngại, mới có được sự cát
tường.
Tôi thường nói với các
đệ tử của tôi rằng khi làm bất kỳ
việc ǵ, dù ở cương vị nào cũng phải
phát tâm dơng mănh, thắng vượt chứ không bao giờ
được thoái thất. Nếu ai lui sụt,
đừng trở về gặp mặt tôi nữa.
Những người yếu đuối, bại hoại
th́ có ích ǵ? Họ chẳng khác ǵ một thứ mà
người Quảng Đông thường gọi là
“thủy b́” là túi da đựng nước mềm nhũn.
C̣n ở Đông Bắc th́ gọi là “thảo bao”, là cái túi
rơm để đựng hạt giống mềm
yếu và vô dụng. Nên hăy nhớ điều này: bất
kỳ ai muốn phát nguyện trở thành đệ tử
của tôi là phải luôn luôn vượt thắng mọi
điều, phải có tâm kiên cố như chùy Kim Cang
vậy. C̣n như “thủy b́” và “thảo bao” th́ không thể
nào theo nổi.
Tất lỵ tất lỵ là Hợp chưởng thủ
nhăn ấn pháp. Có thể khiến cho tất cả long
xà, hổ lang, sư tử, nhân cùng phi nhân ph1t tâm kính
ngưỡng. Tuy nhiên, hành giả phải thực sự có
tâm dơng mănh, vượt thắng và tâm bất thối
chuyển. Công năng của ấn pháp này không phải là
ở chỗ ngôn thuyết mà phải bằng nỗ lực
hành tŕ.
45.
Tô rô tô rô
Tô rô tô rô. Hán
dịch là “cam lồ thủy”. Đây cũng chính là Cam
lồ thủ nhăn ấn pháp. Trước đây tôi
đă giảng về diệu dụng của nước
cam lồ rồi. Có thể giúp cho các loài quỷ đói
được no đủ và mọi tâm nguyện
đều được như ư, làm tiêu tan mọi sự
đói khát, thọ nhận được nhiều
điều tốt lành khác nữa.
Nước cam lồ này c̣n gọi
là “Bất tử dược”. Nếu có người
sắp chết uống nước cam lồ này th́ sẽ
được sống lại. Nhưng không dễ ǵ
gặp được nước cam lồ này nếu không
có duyên lành.
46.
Bồ đề dạ - Bồ đề dạ
Bồ đề dạ. Hán dịch là “Giác đạo”.
Muốn thành tựu giác đạo th́ trước hết,
quư vị phải có được giác tâm. Nếu không có
giác tâm, th́ không thể nào tu tập để thành tựu
đạo giác ngộ. Hành giả trước hết
phải có tâm liễu ngộ chân thực rồi mới có
thể tu tập đến chỗ thành tựu đạo
nghiệp được. Hai câu chú này gọi là Bất
thối kim luân thủ nhăn ấn pháp. Đó chính là tâm
bồ đề kiên cố không bao giờ thoái chuyển.
Từ nay cho đến khi thành
tựu quả vị Phật, quư vị phải phát tâm dơng
mănh ngày càng tinh tất hơn. Đừng nên dừng
lại hoặc lui sụt. Chẳng hạn như khi quư
vị nghe giảng kinh, hăy khởi tâm niệm rất khó có
dịp được nghe giảng kinh Phật. Rất
hiếm khi được gặp pháp hội. Mặc dù chuyện
này xem có vẻ b́nh thường, nhưng nếu quư vị
lắng ḷng suy gẫm kỹ sẽ thấy giá trị vô
cùng. Thử xem có nơi đâu trên thế giới này có
được một pháp hội tinh tấn như thế
này, ngày nào cũng đến đây để nghe giảng
kinh? C̣n có nơi đâu khác trên thế giới mà pháp âm tuôn
trào như thác, như sông măi không ngừng như ở
đây?
Nên khi đă có duyên ngặp gỡ
được pháp hội, quư vị phải thu xếp công
việc, dù có bận rộn bao nhiêu, bất luận pháp
sư giảng đề tài ǵ, người nào giảng
cũng phải đến nghe. Đừng có phân biệt
giữa pháp sư giảng hay và người giảng kém,
rồi chỉ đến nghe người giảng hay.
Nếu quư vị vẫn kiên tŕ đến nghe bất
luận pháp sư nào giảng, lâu ngày chày tháng, chắc
chắn quư vị sẽ thâm nhập được vào ḍng
đạo lư chân thật. Dù ai giảng đi nữa, quư
vị cũng nên đến nghe để hộ tŕ cho pháp
hội. Nếu một tuần có giảng pháp bảy
đêm th́ quư vị cũng nên tham dự cả bảy
đêm. Đừng nên lười biếng!
Pháp môn này khó gặp được
đă từng hằng triệu kiếp nay rồi. Một
khi đă có duyên được gặp th́ phải nên tinh
tấn tu học. Sự tinh tấn chính là “tâm Bồ
đề” kiên cố dơng mănh vậy.
Nếu bỏ mất tâm Bồ
đề mà mong ngày thành đạo th́ không khác ǵ nấu cát
mà mong thành cơm. Nên trong Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật
dạy:
“Vong thấ Bồ đề tâm, tu
chư thiện pháp, thị chư ma nghiệp”.
Nghĩa là: “Bỏ quên tâm Bồ đề
dù tu ngàn thiện pháp như làm việ ma vậy”.
Về bất thối, có ba dạng:
- Thứ nhất là vị bất
thối: Nếu hành giả đă chứng quả A la hán
tồi, th́ không c̣n trở lại hàng phàm phu nữa, Nếu
hành giả đă chứng quả Bồ tát rồi th́ không
c̣n rơi lại hàng A la hán nữa. Nếu hành giả
đă chứng đắc quả vị Phật rồi th́
không c̣n trở lại hàng Bồ tát nữa. Trừ
những vị muốn thị hiện hóa thân để
giáo hóa chúng sanh. Ví dụ như hành giả có thể phát
nguyện: “Nay tôi đă thành tựu quả vị Phật
rồi, tôi muốn hiện thân Tỳ kheo để giáo hóa
chúng sanh”. Điều ấy hoàn toàn đúng.
- Thứ hai là niệm bất
thối: Đôi khi hành giả phát khởi tâm niệm: “Tu
học Phật pháp thật chán, tôi không c̣n muốn tu hành
hoặc đi giảng pháp ǵ nữa cả!”. Đây là
niệm thoái thất. Khi hành giả khởi niệm thoái
thất, th́ ma chướng liền theo ngay, v́ ma
vương rất vui khi người tu hành khởi
niệm lui sụt.
Một khi quư vị đă
đạt được “niệm bất thối”, th́ càng
nghe pháp, càng muốn được nghe nhiều hơn.
Niệm bất thối là tâm
lượng của hành giả không c̣n bị trôi lăn
trong ḍng thức biến “bất giác vọng động
nữa”, không c̣n trải qua bốn tướng sinh trụ
dị diệt của niệm khởi nữa. Niệm
bất thối luôn được lưu xuất từ
Bồ đề tâm, là bạn đồng hành của tâm
kiên cố. Kiên cố là nét đặc trưng của tâm
Bồ đề. Niệm bất thối và tâm kiên cố là
nền tảng của đại nguyện Bồ tát.
Niệm bất thối là niệm mà vô niệm. Vô niệm
mà tự niệm “niệm vô niệm, vô niệm nhi tự
niệm”. Niệm này là niệm vi mật hiện tiền,
không thể suy lường. Niệm bất thối luôn luôn
đi với hạnh bất thối.
- Thứ ba là hạnh bất
thối: Nghĩa là thực hành đạo Bồ tát. Tuy làm
mọi việc trong vô số cảnh giới mà không hề
rời bản tâm, rời đại nguyện, rời
niệm bất thối. Niệm Kim cang nguyện, thực
hành Kim cang hạnh không thể nghĩ bàn.
Đứng trên nhân thừa mà
luận, th́ hạnh bất thối là sự hành tŕ tinh
tấn, miên mật với tâm tinh tấn dơng mănh
hướng tới Phật thừa.
Khi quư vị hành tŕ Bất
thối Kim Luân thủ nhăn ấn pháp, th́ từ nay cho
đến khi thành tựu quả vị Phật, quư vị
sẽ không c̣n thối chuyển. Nhưng quư vị phải
tinh tấn hành tŕ!
47. Bồ đà dạ - Bồ đà
dạ
Câu chú này với câu trước
giống nhau, chỉ khác âm giữa Bồ đà dạ.
Hán dịch là “trí giả” và “tác giả”.
-
Trí là
hiểu biết chân chính, là trí tuệ.
-
Giác là
sự tỉnh thức.
Người
có được sự hiểu biết chân chính là
người đă giác ngộ đích thực và có
được trí tuệ.
Đây
là Đảnh thượng hóa Phật thủ nhăn ấn
pháp. Chữ hóa Phật trong Dảnh thượng hóa
Phật thủ nhăn ấn pháp chính là “giác giả”. Vị
Bồ tát hành tŕ thành tựu Đảnh thượng hóa
Phật ấn pháp cũng chính là “trí giả”. Cơ bản,
“trí” và “giác” vốn chẳng khác nhau.
Giác
là sự giác ngộ, là giai đoạn sau của cái
biết tṛn đầy chân thực (trí).
Tri
là cái biết toàn triệt, là giai đoạn trước
của giác ngộ. Nếu quư vị tu tập Đảnh
thượng hóa Phật ấn pháp thành tựu rồi th́
quư vị sẽ là người có trí tuệ chân chính, là
người đă tự ḿnh giác ngộ rồi. Nếu quư
vị tu tập ấn pháp này th́ mười phương
chư Phật sẽ liền đến xoa đầu
thọ kư cho quư vị trong tương lai sẽ chứng
được quả vị Phật.
Trong
khi đang niệm Phật hoặc tŕ chú, hoặc tọa
thiền, hành giả đôi khi có cảm giác là lạ trên
đỉnh đầu, như thể có một loài côn trùng
ḅ quanh đầu vậy, nhưng khi quư vị lấy tay
sờ đầu th́ thấy không có ǵ lạ. Tôi sẽ nói
cho quư vị biết đó là ǵ. Lúc ấy, chính chư
Phật trong mười phương đến xoa
đầu thọ kư cho quư vị sẽ thành tựu
Phật quả trong tương lai. Nhưng v́ quư vị
chưa có được thiên nhĩ thông nên không nghe
được; v́ chưa có được thiên nhăn thông nên
quư vị không thấy được. Tuy vậy, chư
Phật trong mười phương thực sự đă
rời bổn độ du hành đến đạo tràng
xoa đầu thọ kư cho quư vị. Thế nên nếu quư
vị có phước duyên gặp được, th́ đây
là một cảm ứng xuất phát từ công phu hành tŕ
của quư vị. Nhưng quí vị không được
khởi tâm mê đắm, hay ngă mạn mà nghĩ rằng: “À!
Chư Phật vừa đến xoa đầu thọ kư
hộ tŕ cho tôi”. Nếu quư vị khởi niệm vui
mừng hay hănh diện v́ điều này cũng đều
là chấp trước. Dù đây là triệu chứng
tốt lành, mà khi quư vị đă khởi tâm đắm
chấp rồi, th́ cũng trở nên xấu.
Trong
chương cuối của Kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Đức Phật tŕh bày rất nhiều cảnh giới,
tất cả đều là cảm ứng xuất phát
từ nỗ lực dụng công tu hành. Nhưng nếu hành
giả nghĩ rằng ḿnh đă chứng được
cảnh giới vi diệu, th́ hành giả trở nên bị
chấp trước và liền lạc vào tà ma ngoại
đạo, liền bị ma chướng. Do vậy, khi tu
tập pháp này, quư vị phải tự an trú trong trạng
thái “như như bất động”. Cho dù có gặp
cảnh giới tốt hoặc xấu, cũng giữ tâm
kôhng dao động. Khi tâm không dao động, là quư vị
có được định lực, trí tuệ sẽ phát
sinh. Có trí tuệ chân chính, quư vị sẽ trở thành “trí
giả” và “tác giả”.
48. Di đế rị dạ
Di đế rị dạ. Hán dịch là “ chánh
lượng”. Cũng dịch là “đại lượng”;
nghĩa là số lượng rất nhiều, không
đếm được. C̣n dịch là “đại từ
bi tâm” nghĩa là tâm từ bi quá rộng lớn, không có
ngằn mé. Tâm từ bi này bảo hộ che chở cho
tất cả mọi loá chúng sanh và giúp cho họ
được an vui, khiến cho chúng sanh thể nhập
với bản tâm của ḿnh, thoát khỏi sợ hăi và tránh
xa mọi tai ương.
Đây là Tích thượng
thủ nhăn ấn pháp. Trên đầu tích trượng có
chín ṿng tṛn bằnh đồng. Lúc xưa, người
xuất gia đi đâu cũng mang theo tích trượng.
Mỗi khi đi đường, chín ṿng kim loại này
sẽ tạo nên âm thanh, báo động cho các loài côn trùng
tránh xa để khỏi bị dẫm đạp lên ḿnh.
Tích trượng là một loại pháp khí trong Phật giáo.
Bồ tát Địa Tạng thường dùng tích
trượng như là ch́a khóa để mở cửa các
địa ngục. V́ vậy nên hành giả tu tập
ấn pháp này phải nuôi dưỡng ḷng từ bi rộng
lớn, phát nguyện cứu giúp cho toàn thể mọi loài
chúng sanh.
49. Na ra cẩn tŕ
Na ra cẩn tŕ. Hán
dịch là “Hiền ái” hoặc là “Hiền thủ” cũng
dịch là “Thiện hộ”, “Thiện đảnh”. Nghĩa
là người đứng đầu trong các bậc Thánh
hiền, họ là thượng thủ, là bậc khó t́m cách
bảo bọc, che chở cho chúng sanh, khéo độ thoát cho
chúng sanh đến quả vị tối cao.
Đây là Bảo bát thủ nhăn
ấn pháp. Cũng gọi là Hồ B́nh ấn pháp. B́nh
nước này có thể tẩy trừ mọi uế
trược ở thế gian, cứu giúp chúng sanh thoát
khỏi bệnh khổ. Bồ tát tu tập thành tựu
ấn pháp này sẽ có năng lực hộ niệm cho toàn
thể chúng sanh. Khi quư vị tu tập pháp ấn này thành
tựu rồi, quư vị sẽ có khả năng cứu
giúp mọi loài chúng sanh, giúp họ ngăn ngừa
được mọi tai ương, chướng nạn.
Nên c̣n được gọi là “Thiện hộ”, “Thiện
đảnh”.
50. Địa lỵ sắt ni na
Địa lỵ sắt ni na. Hán dịch là “Kiên lợi”. C̣n có
nghĩa là “Kiếm”. Đây là Bảo kiếm thủ nhăn
ấn pháp. Trước đây khi giảng về bốn
mươi hai thủ nhăn ấn pháp, tôi có nói rằng ấn
pháp này có công năng hàng phục mọi loài ly, mỵ, vơng
lượng. Khi quư vị utu tập thành tựu ấn pháp
này rồi, tất cả các loài thiên ma ngoại đạo,
ly mỵ vọng lượng đều ngoan ngoăn quy
phục bởi v́ họ sợ ấn pháp Bảo kiếm
này của hành giả. Ấn pháp này rất oai hùng. Nếu
có loài thiên ma ngoại đạo nào không tuân phục ấn
pháp, hành giả có thể trừng phạt ngay bằng
Bảo kiếm này.
51. Ba da ma na
Ba da ma na có ba ư: Thứ nhất là “danh văn”
nghĩa là tên của hành giả được lưu
truyền khắp mười phương thế giới.
Nghĩa thứ hai là “Hỷ xưng” là mười
phương thế giới đều vui mừng khen
ngợi công đức của hành giả. Thứ ba là “thành
danh”, “nhất thiết nghĩa thành tựu”. Có nghĩa là
mọi danh tiếng, mọi công hạnh đều
được thành tựu thật nghĩa và rốt ráo.
Đây là Bảo tiễn ấn
pháp. Nếu quư vị hành tŕ ấn pháp này thành tựu
sẽ liền gặp được thiện hữu tri
thức.
52. Ta bà ha
Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha
rất là quan trọng. Câu này được lặp lại
đến mười bốn lần.
Ta bà ha. Hán dịch có sáu nghĩa. Bất
kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có
đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành
tựu”. Khi tŕ niệm câu chú này, tất cả sở
cầu, sở nguyện của hành giả đều
được thành tựu. Nếu quư vị chưa có
được sự cảm ứng khi hành tŕ, là do v́ tâm
chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quư
vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, th́ chắc
chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ
cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này,
th́ không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát
tường”. Khi hành giả niệm câu chú này th́ mọi
sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành
như ư. Nhưng quư vị phải có ḷng thành tín. Nếu quư
vị có ḷng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi tŕ
chú này th́ chư Bồ tát đều biết rơ. V́ thế
nếu quư vị muốn mọi việc đều
được đến chỗ thành tựu th́
trước hết phải có niềm tin chắc thật.
Ví như khi cha của quư vị có bệnh, muốn cha ḿnh
được khỏi bệnh th́ quư vị phải
hết sức thành tâm và chánh tin. Tŕ tụng chú này mới có
cảm ứng.
Hoặc khi quư vị nghĩ
rằng: “Từ lâu ḿnh chưa được gặp
người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”.
Quư vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp
bạn ngay. Hoặc quư vị nghĩ: “Ta chẳng có
người bạn nào cả, muốn có người
bạn tốt”. Quư vị tŕ chú này một cách thành tâm và
liên tục, liền có được bạn lành, ngay
cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha
là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ
báo thân hoặc nhập Niết bàn th́ được
gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên
tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải
niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự
viên tịch. Thế th́ công dụng của câu chú này là ǵ?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô
bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên
măn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh
của hành giả đạt đến mức cao tột
cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát
mới biết được công hạnh rốt ráo tṛn
đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường
được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai
nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng
ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của
hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha th́ công hạnh
đều được tăng trưởng, hành giả
sẽ đạt được chỗ lợi lạc an
vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi
thiết nghĩ trong quư vị ít có ai biết
được. V́ trước đây tôi chưa từng nói
bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú”
này nằm trong ư nghĩa của câu “ưng vô sở trụ
nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp
trước, không vướng mắc hay bám chấp một
thứ ǵ cả.
Tâm vô trú là không có một niệm
chấp trước vào việc ǵ cả. Không chấp
trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi
việc, thấy mọi việc đều là tốt
đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô
bất vi” (không khởi niệm tác ư nhưng điều
ǵ cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi
theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quư vị vừa móng khởi lên
một niệm tưởng, đừng nên vướng
mắc vào một thứ ǵ cả, đó là nghĩa thứ
sáu của Ta bà ha. Quư vị đừng nên
trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quư
vị có tất cả các tâm niệm trên th́ phải nhanh
chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm ḿnh
không c̣n trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục,
chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh
ấy gọi là vô trú. Dùng cái ǵ để chinh phục chúng?
Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng
phục. Quư vị nói rằng tâm quư vị bị
đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng
Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quư
vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo
kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quư vị bị
ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí
tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất
cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang
vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để
hàng phục. Nếu quư vị muốn hàng phục thiên ma
ngoại đạo th́ trước hết quư vị
phải chuyển hóa được mọi vọng
tưởng của ḿnh. Khi quư vị chuyển hóa
được vọng tưởng trong tâm ḿnh, th́ thiên ma
ngoại đạo cũng được hàng phục luôn,
cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng
cũng chẳng t́m được cách nào để hăm
hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta
bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có
chữ Ta bà ha đều mang đầy
đủ sáu nghĩa trên.
53. Tất đà da
54. Ta bà ha
55. Ma ha tất đà da
56. Ta bà ha
Chữ Tất đà da có
năm nghĩa: Thứ nhất là “Thành tựu đốn
kiết”. Thứ hai là “thành biện”. Thứ ba là “thành
lợi”.Thứ tư là “nhất thiết nghĩa thành
tựu” và thứ năm là “sở cung xưng tán”.
Thành tựu đốn kiết
nghĩa là khi sử dụng thần chú này, th́ mọi
sở cầu, sở nguyện của hành giả liền
tức khắc (đốn) được an lành
(kiết), toại nguyện.
Có người hỏi: “Tại sao
tôi cũng tŕ chú Đại Bi, mà không được
toại nguyện tức th́”? V́ sự tŕ niệm chú
Đại Bi đ̣i hỏi phải có sự tương
ứng từ nỗ lực dụng công. Nếu không có
sự nỗ lực hành tŕ tương ứng, th́ sẽ
không có sự thành tựu. Nếu có sự cảm ứng,
dung thông th́ mọi sở cầu, sở nguyện của
hành giả đều được thành tựu.
Tất đà dạ c̣n có nghĩa là “thành biện”.
Nghĩa là hành giả làm bất cứ việc ǵ th́ kết
quả đều đạt được viên măn.
Cũng gọi là “thành lợi” là v́
mọi việc làm đều được thành tựu
lợi ích.
Nhất thiết nghĩa thành
tựu có nghĩa là làm bất kỳ việc ǵ cũng
đều được thành tựu.
Sở cung xưng tán có nghĩa là
mọi người đều đến khen ngợi, cung
kính tán dương công đức của hành giả.
Ma ha tất đà dạ. Ai cũng đều biết Ma
ha có nghĩa là lớn. Câu chú này có nghĩa là hành
giả đạt được mọi sự nghiệp
to lớn, thành tựu được công đức thù
thắng và đạo nghiệp viên măn. Trong mọi
việc, hành giả đều đạt được
sự thành tựu viên măn cao tột.
Cả hai câu chú hợp lại Tất
đà dạ ta bà ha Ma ha tất đà dạ ta bà ha là Bảo
kinh thủ nhăn ấn pháp. Bảo Kinh là sự quư giá vô
ngàn của Kinh điển, chính là Pháp bảo. Nếu quư
vị tu tập ấn pháp này th́ sẽ đạt
được lợi lạc vô cùng vô tận. Trong
tương lai, trí tuệ và sức ghi nhớ của quư
vị sẽ rất tinh anh. Nghĩa là có được
khả năng “bác văn cường kư” – nghe nhiều,
nhớ kỹ.
Kư ức của chúng ta thường
hoạt động theo một lối riêng. Cũng như
không thể nào đi nếu không có cây gậy. Sau khi
đọc được điều ǵ, chúng ta không
thể nhớ rơ ràng hết được. Chỉ khi nào
cần cho sự học tập của ḿnh, chúng ta mới
lục lại t́m kiếm hay tra cứu lại những ghi
chép. Tại sao trí nhớ của ḿnh lại quá kém. V́ quư
vị chưa từng hành tŕ Bảo kinh thủ nhăn ấn pháp này. Nếu quư
vị hành tŕ ấn pháp này, quư vị sẽ đạt
được sự hiểu biết thông tuệ và
kiến thức rất đa dạng. Giống như Tôn
giả A Nan, là đệ tử đa văn đệ
nhất của đức Phật. Có thể nói Ngài A Nan
đă hành tŕ Bảo kinh ấn pháp mà chẳng nghi
ngờ ǵ. Ngài đă thành tựu ấn pháp này từ vô
lượng kiếp rồi, nên khi nghe được
điều ǵ, th́ không c̣n quên nữa. Ngay cả Ngài có
thể nhớ được những điều Ngài
chưa từng nghe. Tại sao tôi nói như vậy? V́ Tôn
giả A Nan ra đời cùng ngày đức Phật Thích Ca
Mâu Ni thành đạo. Như thế nên hai mươi năm
trước, khi A Nan chưa xuất gia, th́ những bài
thuyết pháp của đức Phật Ngài A Nan chưa
được nghe. Thế th́ làm sao A Nan có thể kết
tập toàn bộ Kinh điển sau khi đức Phật
nhập Niết bàn? V́ A Nan được nghe các vị
trưởng lăo giảng lại những bài Kinh mà
đức Phật đă thuyết từ trước, hoặc
chính do đức Phật giảng lại cho A Nan nghe khi A
Nan nhập định nên A Nan thừa biết rơ nguyên nhân
của sự nhớ giỏi này là nhờ đă hành tŕ Bảo
kinh thủ nhăn ấn pháp thành tựu.
Có người hỏi tôi: “Làm
thế nào để có được trí nhớ tốt?”
Câu trả lời đơn giản là hăy hành tŕ Bảo
kinh ấn pháp. Những người nhớ
được Kinh rơ ràng là có duyên với ấn pháp này.
Ở trong đồ h́nh mạn
đà la, đây là ấn pháp Bồ tát phóng quang. Ngài phóng ra
hào quang và tay cầm một tràng phan màu đỏ. Toàn thân
Bồ tát phóng ra những luồng hào quang sáng chói biểu
tượng cho sự khai mở trí tuệ, sự
cường kư, trí lực đa văn quảng kiến và
công đức thành tựu viên măn.
57. Tất đà du nghệ
58. Thất bà ra dạ
59. Ta bà ha
Tất đà.
Hán dịch là “thành tựu lợi ích”.
Du nghệ.
Hán dịch là “Vô vi” hay c̣n gọi là “hư không”.
Thất bàn ra dạ. Hán dịch là “Tự tại”.
Đây là Bảo hiếp thủ nhăn ấn pháp. Hành
giả thành tựu ấn pháp này có thể sử dụng
lấy tất cả các thứ châu báo ẩn giấu trong
ḷng đất để làm lợi ích cho chúng sanh. Ư của
câu chú này nói rằng ở nơi thể tánh mà thường
được tự tại và thành tựu vô lượng
công đức.
60. Na ra cẩn tŕ
61. Ta bà ha
Na ra cẩn tŕ. Hán dịch là “ái hộ” nghĩa là
thường nỗ lực bảo bọc che chở
tất cả chúng sanh. Câu chú này cũng mang ư nghĩa
đại Từ Bi.
Đây là Bảo b́nh thủ nhăn
ấn pháp.
62. Ma ra na ra
63. Ta bà ha
Ma ra. Hán dịch là “Như ư”
Na
ra. Hán
dịch là “Tôn thượng”.
Đây là Quyến sách thủ nhăn ấn
pháp. Ấn pháp này có công năng mang lại sự an vui
như ư đến cho hành giả, khiến cho các thứ
bệnh tật, chướng nạn đều
được tiêu trừ.
Quyến sách thủ nhăn ấn pháp có rất nhiều diệu
dụng. Hành giả có thể kết một sợi dây
ngũ sắc rồi hành tŕ quyến sách ấn pháp vào
sợi dây ấy. Thành tựu rồi th́ khi phóng sợi dây
này ra, các loài yêu ma quỷ quái, ly mỵ vọng lượng
đều bị trói chặt. Không thể nào chạy thoát
được. Từ đó sẽ t́m cách giáo hóa cho các loài
ấy hồi tâm hướng thiện. Đây là diệu
dụng của ấn pháp này. Mới xem qua th́ có vẻ b́nh
thường nhưng công năng thật khó lường.
Trong đạo giáo gọi ấn pháp này là
“Khổn tiên thằng”.
64. Tất ra tăng a mục khư
da
65. Ta bà ha
Tất ra tăng. Hán dịch là “thành tựu –
ái hộ”. Nghĩa là thường đem hết sức ḿnh
để bảo hộ che chở cho tất cả chúng
sanh.
A mục khư da. Hán dịch là “bất không,
bất xả”.
Bất không có nghĩa là hữu. Nhưng
đây có nghĩa là diệu hữu.
Bất xả có nghĩa là “Bất xả
nhất pháp”. Không từ bỏ một việc ǵ, phải
thông thạo tất cả các pháp. Nên có câu kệ:
“Chân như lư thượng bất lập
nhất trần.
Phật sự môn trung bất xả nhất
pháp”.
Nghĩa là:
“Trên phương diện bản thể, lư
tánh tức chân như, th́ không cần lập một thứ
ǵ nữa cả, dù chỉ là hạt bụi.
Nhưng về mặt sự tướng, có
nghĩa là việc hành tŕ, tu đạo th́ không
được bỏ qua một pháp nào cả”.
A mục khư da c̣n có nghĩa nữa là “ái
chúng, ḥa hợp”. Nghĩa là thương yêu, ḥa hợp,
thường cứu giúp tất cả chúng sanh.
Câu chú này c̣n có nghĩa khác là trong tự tánh
của mỗi chúng sanh đều có đủ tánh tự
tại và tánh công đức thường vẫn tṛn
đầy.
Đây là Bảo phủ thủ nhăn ấn
pháp. Khi hành tŕ ấn pháp này thành tựu, hành giả có
thể tránh được nạn tù tội, bất kỳ
nơi đâu, bất kỳ mọi lúc, hành giả
đều không bị vướng phải các chướng
nạn về quan quyền nữa.
Quư vị sẽ hỏi: “Nếu tôi tu
tập ấn pháp này, liệu tôi có thể phạm pháp mà
vẫn không bị bỏ tù hay sao?”
Không! Là Phật tử, quư vị không
được phạm pháp. Nếu quư vị đă thông
hiểu Phật pháp và phát tâm tu học Phật pháp rồi,
th́ làm ǵ có chuyện phạm pháp nữa? C̣n nếu quư
vị làm chuyện phạm pháp, tất nhiên phải bị
bắt và ở tù.
Tuy nhiên, đôi khi có những người vô
tội bị bắt ở tù. Đây là v́ họ chưa bao
giờ tu tập Bảo phủ thủ nhăn ấn pháp
này.
66. Ta bà ma ha a tất đà dạ
67. Ta bà ha
Như quư vị đă biết, thế
giới chúng ta đang sống là thế giới Ta bà. Ta bà
có nghĩa là “kham nhẫn”. C̣n được dịch là
“nhẫn ái”. C̣n dịch là “Thiện thuyết, thiện
đáo”.
Kham nhẫn có nghĩa là chúng sanh như chúng
ta khó có thể chịu đựng nổi những sự
thống khổ ở cơi giới Ta bà này.
Nhẫn ái có nghĩa là chúng sanh thế
giới Ta bà này không những có thể chịu đựng
mọi khổ đau mà c̣n sanh khởi ḷng thương yêu
mọi loài nữa.
Thiện thuyết, thiện đáo nghĩa
là, luôn luôn nói lời tốt đẹp, lợi ích khi ở
trong thế giới Ta bà. Cùng khuyến khích mọi
người hiện thân đến ở cơi giới Ta bà
này.
Ma ha là lớn. Đây có nghĩa là pháp
Đại thừa, tức là Bồ tát đạo.
A tất đà dạ. Hán dịch là “vô
lượng thành tựu”. Nghĩa là tu tập pháp
Đại thừa của hàng Bồ tát có công năng
đưa hành giả đến bờ bên kia một cách
rốt ráo và thành tựu vô lượng công đức.
Đây là Bồ đào thủ nhăn ấn
pháp. Khi quư vị tu tập thành tựu ấn pháp này th́
trong miệng hành giả thường có vị ngọt
của nho, c̣n hơn vị ngọt của
đường. Quư vị hăy chú ư điểm này, trong khi
hành tŕ ấn pháp này mà thấy trong miệng có vị
ngọt nghĩa là bắt đầu có sự cảm
ứng. Khi thành tựu ấn pháp này rồi, khi quư vị có
trồng trọt các loại nông sản, ngũ cốc, th́
sâu bọ côn trùng không thể phá hoại mùa màng của quư
vị. C̣n các loại cây ăn quả như cam, đào,
hạnh, lê, … sẽ sinh trưởng rất nhanh và có
vị ngọt khác thường. Công năng của Bồ
đào ấn pháp này rất lớn và sự thành tựu
của pháp Đại thừa là vô lượng vô biên.
Tất la tăng a mục khư da. Ở trong đồ h́nh
mạn đà la là h́nh ảnh biểu tượng cho
bổn thể của Dược Vương Bồ tát,
người đă dùng vô số phương tiện, dược
liệu để chữa bệnh cho chúng sanh.
Ta bà ma ha a tất đă dạ ta bà ha là bổn thể của
Bồ tát Dược Thượng, người cũng
thường dùng vô số phương thuốc để
chữa lành bệnh cho chúng sanh.
68. Giả kiết ra a tất đà
dạ
69. Ta bà ha
Giả kiết ra a tất đà dạ. Hán dịch là “Kim cang luân”.
C̣n gọi là Kim cang Bạt chiết la. Kim cang luân này có h́nh
tṛn nhưng có khác so với Kim cang luân khác. Câu chú này c̣n có
nghĩa là “Hàng phục oán ma”. Khi trong tâm luôn luôn sinh khởi
xung khí và bất b́nh th́ gọi là ma. Khi ấy họ
thường phê phán mọi điều. Họ nói “Chư
Phật thường làm những việc sai trái, cho
đến hành Bồ tát, A la hán, chư Thiên, Diêm
Vương cũng đều như thế”. Họ
phản đối kịch liệt và hằn học
đối với tất cả mọi điều.
“Tất cả đều là tà vạy”. Họ giống
như kẻ cuồng si, chẳng để ư ǵ đến
pháp luật nữa. Họ luôn xung khắc với toàn
cả thế gian. Trong nhân gian gọi loại người
này là điên cuồng. Trong hàng quỷ thần th́ hạng
người này được gọi là Ma. Nộ khí
của loài ma oán này thường xôn g khắp cơi Trời. Nó
thường giận dữ: :Ai cũng đều quá vô
lễ với ta!”. Hoặc nó nói: “Phật hả? Ta sẽ
đánh bại ngay. Bồ tát hay A la hán ta cũng hạ
gục luôn. C̣n loài người, ta sẽ ăn thịt
hết. Ma quỷ th́ ta sẽ chà nát dưới gót chân. Ta
sẽ xé nát thân chúng ra cho đến chết!” Oán khí
loại ma này thật ghê rợn.
Đây là Bạt chiết la thủ nhă
ấn pháp. Với Kim cang luân, hành giả có thể
đập tan các loài thiên ma ngoại đạo, quỷ
thần thành từng mảnh vụn. Bất luận đó
là loại ma nào, nó đều bị thu phục và vâng
lời khi hành giả dùng Kim cang luân để thi hành ấn
pháp này. Ma oán sẽ cung kính đảnh lễ hành giả và
thưa: “Con nguyện quy phục ấn pháp. Nguyện theo
mọi quy luật, không dám xâm hủy”.
Kim cang luân ấn pháp không những chỉ có công
năng hàng phục thiên ma ngoại đạo, mà c̣n có công
năng phát ra âm thanh chấn động. Đạo giáo
gọi âm thanh này là “Ngũ Lôi Oanh Đảnh”.
Sấm sét vốn thường phát sinh
từ trên Trời, nhưng các Đạo sĩ Lăo giáo có
thể phóng ra tiếng sấm từ ḷng bàn tay khi họ
kết một loại ấn gọi là Chưởng tâm lôi.
Tiếng sấm sét vang ra khiến cho thiên ma bị chấn
động, thậm chí c̣n có thể khiến thịt da nó
bị tan tành từng mảnh.
Khi giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm, tôi có nói
về một người bạn thân, có khả năng
sử dụng được ấn pháp này. Khi quư vị
hành tŕ thành tựu ấn pháp này rồi, th́ sấm sét
sẽ vang rền khi quư vị sử dụng ấn pháp và
tiếng vang của nó sẽ hàng phục được
tất cả các loài ma oán.
A tất đà dạ. Hán dịch là “Vô tỷ thành
tựu”. Hành giả tŕ chú này sẽ được thành
tựu công đức rất lớn; không có ǵ so sánh
được, cho nên mới khiến cho các loài ma oán
đều quy đầu phục thiện.
70. Ba đà ma yết tất đà
dạ
71. Ta bà ha
Ba đà ma. Hán dịch là “Hồng liên hoa”.
Yết tất đà dạ. Hán dịch là “Thiện
trắng”.
Hồng liên hoa này là siêu việt tất
cả mọi loài và thành tựu vô lượng công
đức. Khi quư vị tu tập Hồng liên hoa thủ
nhăn ấn pháp này thành tựu rồi, nếu quư vị muốn
sanh ở cơi Trời th́ ước nguyện ấy rất
dễ thành tựu như ư.
72. Na ra cẩn tŕ bàn đà ra dạ
73. Ta bà ha
Na ra cẩn tŕ. Hán dịch là “Hiền thủ”.
Hiền là thánh hiền.
Thủ là giữ ǵn, canh giữ hộ tŕ.
Bàn đà ra dạ dịch nghĩa là Quán Thế Âm, Quán Tự
Tại.
Đây là Thí vô úy thủ nhăn ấn pháp mà
Bồ tát Quán Thế Âm thường dùng để cứu
độ chúng sanh, giúp cho mọi loài không c̣n sợ hăi trong
mọi lúc, mọi nơi.
74. Ma bà lợi thắng yết ra da
75. Ta bà ha
Ma bà lợi thắng. Hán dịch là “Đại
dơng”, cũng dịch là “anh hùng đức”, nghĩa là
đức hạnh của bậc đại anh hùng. Bồ
tát Quán Thế Âm cũng được gọi như
thế.
Yết ra da. Hán dịch là “sinh tánh” hoặc là “bổn
tánh”. Nghĩa là tự tánh bản hữu của chúng sanh
vốn sẵn có đức hạnh của bậc
đại anh hùng. Đức hạnh của đại anh
hùng chính là do hành tŕ Tổng nhiếp thiên tư thủ nhă
ấn pháp, ấn pháp này có công năng hàng phục
mọi loài ma oán không chỉ ở thế giới này mà
khắp cả đại thiên thế giới.
Hành giả tu tập ấn pháp này nên
biết đây là ấn pháp quan trọng nhất trong
tất cả bốn mươi hai ấn pháp. V́ khi hành tŕ
ấn pháp này, th́ tất cả bốn mươi hai ấn
pháp kia đều có đủ trong ấn pháp này.
Quư vị có thể thắc mắc: “Thế
th́ tôi chỉ cần hành tŕ một ấn pháp này thôi cũng
đủ, chẳng cần hành tŕ bốn mươi
mốt ấn pháp kia nữa”.
Nếu quư vị lười biếng th́
cứ làm. Nếu không phải là kẻ lười
biếng, th́ nên hành tŕ tất cả bốn mươi hai
ấn pháp. Mặt khác, quư vị muốn làm kẻ
lười biếng và thích tu tập để trở thành
một vị Bồ tát lười th́ cứ tu tập
ấn pháp cuối cùng này trong bốn mươi hai ấn
pháp kia. Sẽ phải mất khá nhiều thời gian
mới thành tựu được. Tuy nhiên, v́ quư vị là
người lười biếng nên sẽ không
được thành tựu sớm là điều hiển nhiên.
Thế nên các pháp đều là bất định. Nếu
quư vị không muốn trở thành một vị Bồ tát
lười, quư vị sẽ chẳng bận tâm thời
gian lâu hay mau để tu tập các ấn pháp này.
76. Nam mô hắc ra đát na đá ra
dạ da
Câu này đă được giảng rơ ở
phần đầu Kinh văn rồi. Nhưng có
trường hợp quư vị bị quên, nên tôi sẽ
giảng lại lần nữa. Những người tuy có
nhớ, nhưng không được rơ ràng, nghe lại
lần này sẽ được rơ thêm. Những
người đă nhớ kỹ rồi, nghe
được một lần này nữa lại càng
hiểu sâu hơn.
Nếu tôi giảng chưa rơ, quư vị
cứ hỏi tôi ngay tức khắc, v́ cách tôi giảng Kinh
hoàn toàn khác với các Pháp sư. Tôi không dùng tài liệu
hoặc các luận giải.
Nam mô có nghĩa là “Quy y”. Quy y ǵ? Con xin uy y Tam
bảo.
Hắc ra đát na có nghĩa là “bảo”: quư
báu.
Đá ra dạ dịch là “Tam”: ba
Toàn câu nghĩa là con nguyện quy y Tam
bảo. Con nguyện đem cả thân tâm tánh mạng
để quy y. Như những Phật tử tại gia
đă quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Đó là quy y Tam
bảo.
Quy y Tam bảo tức là quy y với toàn
thể chư Phật trong ba đời, khắp cả
mười phương, cùng tận hư không pháp giới.
Cũng tức là quy y với tất cả pháp trong ba
đời, mười phương, cùng tận hư không
pháp giới. Cũng chính là đem hết thân tâm tánh mạng
quy y với tất cả các bậc Hiền thánh tăng
trong ba đời, mười phương, cùng tận
hư không pháp giới.
Hư không, chẳng bao giờ cùng tận.
Tất cả các cơi nước đều nằm trong pháp
giới này. Có tất cả mười pháp giới, trong
đó bốn cơi giới của các bậc Thánh Hiền và
sáu cơi giới của chúng sanh phàm phu. Bốn cơi giới
của bậc Hiền Thánh là: Phật, Bồ tát, Thanh
văn, Duyên giác.
Sáu cơi giới phàm phu là: Trời,
người, A tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa
ngục.
Mười phương là: Bắc, Đông,
Nam, Tây, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam, đó
là tám. Thêm phương trên và phương dưới
tất cả là mười.
Ba đời là quá khứ, hiện ại,
vị lai. Chúng ta quy y với Phật bảo trong suốt
khắp mười phương ba đời. Những
lời đức Phật dạy được gọi là
Pháp bảo. Tam tạng Kinh điển được
diễn đạt qua mười hai phần Kinh văn
(bộ Kinh). Tất cả Kinh điển do đức
Phật nói ra được gọi là Pháp bảo. Pháp
bảo không chỉ hiện hữu và lưu hành trong nhân gian
mà c̣n lưu hành khắp cả hư không và pháp giới.
Khi nào quư vị có được ngũ nhăn,
lục thông rồi th́ quư vị mới thâm nhập
được vào chân Kinh. Có nghĩa là quư vị
đọc được “vô tự chân Kinh”. Trong hư
không, bất kỳ lúc nào thích, quư vị đều
đọc được chân kinh mà không cần hở môi.
Lục Tổ đă từng nói:
“Khi mê Pháp Hoa chuyển
Khi ngộ chuyển Pháp Hoa”.
“Vô tự” không có nghĩa là Kinh không có
chữ. Mà chính là hàng phàm phu không thấy được
chữ. Tuy nhiên, khi quư vị nh́n sâu vào hư không, quư vị
có thể thấy được chư Phật đang
tụng Kinh. Một số vị đang tụng Kinh Pháp
Hoa, một số vị đang tụng Kinh Thủ Lăng
Nghiêm và một số vị khác đang tụng Kinh Hoa
Nghiêm. Chư Phật đều đang tụng Kinh và tŕ chú
như thần chú Thủ Lăng Nghiêm. Chư Phật luôn
luôn hành tŕ các thời khóa tụng ấy. Nhờ thế nên
Pháp bảo được hiện hữu và lưu
truyền suốt khắp tận hư không pháp giới.
Chúng ta cũng quy y Tăng bảo suốt
cả ba đời, cùng tận hư không pháp giới. Thành
phần nào tạo thành Hiền Thánh Tăng? Chính là các
đại Bồ tát, các đại A la hán, các đại
Tỳ kheo tăng.
Đá ra dạ có nghĩa là “tam”: ba. Chúng ta quy y với Tam
Bảo trong suốt mười phương, ba đời
cùng tận hư không pháp
giới.
Da
có nghĩa là “đảnh lễ”. Là quy y và cung kính
đảnh lễ trước Tam Bảo.
77. Nam mô a lị da
Nam mô. Hán dịch là “quy y”.
A lị da. Hán dịch là “Thánh giả”, cũng có
nghĩa là “Thánh Hiền”. Câu chú này thể hiện sự quy
y với tất cả các Hiền Thánh Tăng.
78. Bà lô kiết đế
Bà lô kiết đế. Hán dịch là “quán”.
79. Thước bàn ra da
Thước bàn ra da. Hán dịch là “tự
tại”. Toàn câu Bà lô kiết đế thước bàn
ra da có nghĩa là Quán Tự Tại tức là Bồ
Tát Quán Thế Âm.
80. Ta bà ha
Bồ tát Quán Tự Tại đă thành
tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha
có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô
biên.
81. Án tất điện đô
Nay phần kinh văn của thần chú
đă được tụng rồi. Tiếp theo là
phần chân ngôn. Thông thường có chữ Án
luôn luôn dẫn đầu cho phần chân ngôn này. Nên chữ Án
mang ư nghĩa “dẫn sinh nghĩa”.
Tất nghĩa là “thành tựu”.
Điện đô. Hán dịch là “ngă giới”
là đạo tràng, lănh thổ, cương vực của
ḿnh đă được kiết giới thành tựu.
Phạm vi kiết đại giới là 800 do tuần
(yojanas) và trung giới là 600 do tuần. Trong phạm vi đă
được kiết giới này, hành giả
thường được an lạc và yên tịnh,
tất cả mọi công đức đều được
thành tựu và bản nguyện đều được
như ư.
Chẳng hạn như khi tôi đă kiết
giới đạo tràng trong phạm vi địa hạt
San Francisco (Cựu Kim Sơn) th́ trong toàn bộ vùng này
sẽ không xảy ra động đất hoặc
những thiên tai khác. V́ các vị hộ pháp, thiện
thần đều phải hộ tŕ cho nguyện lực của
đạo tràng được thành tựu.
Phạm vi và ư nghĩa kiết giới
lớn làm sao! Một hạt vi trần cũng rộng
lớn bao la rồi. V́ một hạt vi trần của hành
giả là bao hàm vô lượng vi trần vô lượng
thế giới, và vô lượng vi trần trong thế
giới cũng chỉ hàm ẩn trong một vi trần. V́
vậy, nếu một vi trần hoại diệt th́ vô
lượng vi trần đều hoại diệt. Một
hạt vi trần tồn tại th́ vô lượng vi trần
cũng tồn tại. Đó là sự vi diệu của
sự kiết giới.
82. Mạn đà ra
Mạn đà ra. Hán dịch là “đạo tràng”, cũng
dịch là “Pháp hội”. Nghĩa là đạo tràng của
hành giả nhất định phải thành tựu. Pháp
hội của hành giả nhất định phải thành
tựu.
83. Bạt đà da
Bạt đà da dịch là “Toại tâm viên măn”. Chẳng
hạn như khi tôi muốn một vi trần kh6ng hoại
th́ nó sẽ không hoại. Nếu tôi muốn tất cả
các vi trần không bị tan hoại th́ các vi trần ấy
sẽ kết hợp lại với nhau. Khi tôi niệm Án,
tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta
bà ha với tâm nguyện sẽ không có nạn
động đất xảy ra ở San Francisco (Cựu
Kim Sơn), hoặc nếu có nạn động đất
lớn th́ nạn ấy biến thành nhỏ, nạn
nhỏ th́ biến thành không có. Nhờ vậy nên không có
nạn động đất, không có ai sợ hăi. Thế
nên gọi là sự thành tựu. Tùy theo tâm nguyện mà
đều được như ư (toại tâm viên măn).
Nếu quư vị có niềm tin chí thành, th́ thấy rất là
màu nhiệm. C̣n nếu quư vị không tin, là v́ quư vị chẳng
thích thú ǵ với những điều mầu nhiệm
như trên.
84. Ta bà ha
Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu
điều ǵ? Thành tựu mọi thệ nguyện của
hành giả. Bất luận quư vị phát tâm nguyện ǵ, quư
vị sẽ đạt được như ư khi niệm
Án tất điện đô mạn đà ra bạt
đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát
xuất gia cũng tŕ niệm câu chú này. Có nghĩa là
ước nguyện việc xuất gia tu học Phật
pháp sẽ được như ư thành tựu viên măn.
Đến đây th́ Kinh Đại Bi Tâm
Đà La Ni và chú Đại Bi đă được giảng
giải xong. Nay tôi cũng đă giảng hết bốn
mươi hai thủ nhăn ấn pháp, đó là phần sau
của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. C̣n phần sau
nữa là khoa nghi hành tŕ, là phương pháp tu hành, nay tôi
không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ
tử có tâm nguyện được nghe giảng chú
Đại Bi. Đến nay quư vị nghe giảng gần
một năm. Pháp hội này được xem như thành
tựu viên măn.
Tôi nguyện rằng quư vị có phát tâm hành
tŕ điều ǵ cũng được như ư, tất
cả đều được Bạt đà da ta bà
ha, tức là thành tựu viên măn tâm nguyện của
ḿnh. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên
sự thành tựu cũng không đồng, nhưng
đều viên măn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có
duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này
đều sớm thành tựu quả vị Phật, v́
đây là ước nguyện của những người
thâm tín chư Phật.
Một khi quư vị đă chứng
được quả vị Phật tức là mọi
việc đều “toại tâm măn nguyện” rồi.
--------- HẾT ---------
Mời bạn chọn vào đây để xem tập sách: Con đường Tây Phương của Tịnh Sĩ
Mời bạn chọn
vào đây để xem Kinh A Di Đà của Ḥa
Thượng Thích Trí Tịnh
Mời
bạn chọn vào đây để xem tập sách: Quê
Hương Cực Lạc của Ḥa Thượng Tuyên Hóa